"Nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn chỉ là giải pháp tình thế"
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy ý kiến dự thảo sửa đổi Thông tư 22/2019 về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Điểm đáng chú ý nhất trong dự thảo lần này là đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%.
Đề xuất được đưa ra trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2026 - 2030, đòi hỏi nguồn vốn trung và dài hạn lớn được bơm vào nền kinh tế. Việc nới rộng tỷ lệ này được kỳ vọng sẽ tháo gỡ một số vướng mắc trong cơ chế tín dụng hiện hành, giúp các tổ chức tín dụng mở rộng khả năng cung ứng vốn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kỳ vọng về tăng trưởng tín dụng, đề xuất cũng đặt ra những câu hỏi về rủi ro thanh khoản và sự lệch pha kỳ hạn trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng. Để có cái nhìn toàn diện hơn về cả cơ hội lẫn thách thức, Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với ông Lê Hoài Ân, chuyên gia tài chính ngân hàng.
Thưa ông, việc NHNN đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên 40% xuất phát từ những áp lực nào?
Ông Lê Hoài Ân: Việc NHNN đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ mức 30% lên 40% là sự đảo chiều đáng chú ý so với lộ trình siết dần trước đó, khi tỷ lệ này đã giảm từ 40% giai đoạn 2020 - 2021 xuống 37%, 34% và về 30% từ ngày 1/10/2023.
|
Động thái này phản ánh một nhu cầu khá cấp bách của nền kinh tế: nhu cầu vốn trung và dài hạn đang tăng nhanh, trong khi thị trường vốn ngoài ngân hàng, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp và vốn cổ phần, chưa đủ sâu để chia sẻ gánh nặng với hệ thống ngân hàng. Các dự án hạ tầng, năng lượng, công nghiệp, bất động sản khu công nghiệp, logistics, chuyển đổi xanh hay đầu tư công kéo theo thường có vòng đời vốn dài, nhưng nguồn vốn của ngân hàng Việt Nam vẫn chủ yếu là vốn ngắn hạn. Vì vậy, nếu giữ trần 30% quá chặt trong bối cảnh nhu cầu đầu tư tăng cao, ngân hàng có thể bị hạn chế khả năng cấp tín dụng trung và dài hạn ngay cả khi vẫn có khách hàng và dự án đủ điều kiện.
Nếu trần tỷ lệ được nới từ 30% lên 40%, về mặt kỹ thuật, dư địa vốn được "giải phóng" thêm cho tín dụng trung và dài hạn có thể lên tới bao nhiêu? Ông đánh giá như thế nào về đề xuất này, nhìn từ cả hai phía cơ hội và rủi ro?
Ông Lê Hoài Ân: Về mặt kỹ thuật, phần dư địa tăng thêm có thể tính tương đối theo công thức: 10% nhân với quy mô nguồn vốn ngắn hạn đủ điều kiện của hệ thống ngân hàng. Tính đến cuối tháng 3/2026, tổng tiền gửi của tổ chức và cá nhân tại các tổ chức tín dụng đạt khoảng 16,575 triệu tỷ đồng. Nếu giả định khoảng 80 - 90% nguồn vốn huy động của hệ thống có tính chất ngắn hạn, thì phần dư địa lý thuyết được mở thêm cho hoạt động cấp tín dụng trung dài hạn có thể nằm quanh 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng.
Tuy nhiên, đây là dư địa lý thuyết, không phải lượng vốn chắc chắn sẽ lập tức chảy vào nền kinh tế. Trên thực tế, con số sử dụng được sẽ thấp hơn vì còn phụ thuộc vào room tín dụng từng ngân hàng, hệ số an toàn vốn, tỷ lệ cho vay trên huy động, chất lượng tài sản, khẩu vị rủi ro và khả năng tìm được dự án đủ chuẩn.
Nếu tính thận trọng, phần vốn thực sự có thể được hấp thụ thêm vào các khoản vay trung và dài hạn trong giai đoạn đầu có thể thấp hơn đáng kể, có thể chỉ ở mức vài trăm nghìn tỷ đến quanh một triệu tỷ đồng, tùy tốc độ phê duyệt và sức khỏe từng ngân hàng.
Mặt tích cực là chính sách này có thể giúp tháo một nút thắt thanh khoản kỳ hạn, tạo thêm dư địa cho ngân hàng tài trợ các dự án có tính lan tỏa lớn, nhất là đầu tư hạ tầng, sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ và các dự án phục vụ tăng trưởng dài hạn. Trong ngắn hạn, nó cũng có thể giúp giảm áp lực phải huy động vốn kỳ hạn dài bằng mọi giá, qua đó góp phần hạ nhiệt cuộc đua lãi suất huy động ở một số ngân hàng.
Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất là rủi ro lệch kỳ hạn. Ngân hàng dùng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn nhiều hơn thì sẽ nhạy cảm hơn với biến động thanh khoản, lãi suất và tâm lý người gửi tiền. Nếu dòng vốn được đẩy vào các dự án có dòng tiền yếu, dự án bất động sản kém thanh khoản hoặc các khoản vay có thời gian hoàn vốn quá dài, chính sách hỗ trợ tăng trưởng hôm nay có thể trở thành áp lực nợ xấu trong vài năm tới.
Vì vậy, tôi đánh giá đây là một động thái cần thiết trong bối cảnh hiện nay, nhưng chỉ nên xem là nới có điều kiện, không phải tín hiệu để các ngân hàng mở rộng tín dụng trung dài hạn bằng mọi giá.
Không phải ngân hàng nào cũng ở vị thế như nhau để tận dụng dư địa mới này. Theo ông, nhóm ngân hàng nào sẽ hưởng lợi lớn nhất nếu đề xuất này được thông qua?
Ông Lê Hoài Ân: Nhóm hưởng lợi lớn nhất sẽ là các ngân hàng đang có nhu cầu cho vay trung dài hạn cao nhưng bị giới hạn bởi tỷ lệ kỳ hạn, đặc biệt là ngân hàng có nền tiền gửi lớn, quản trị thanh khoản tốt và năng lực vốn còn đủ. Tôi cho rằng có hai nhóm nổi bật.
Thứ nhất là nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước và ngân hàng quy mô lớn, vì đây là nhóm thường tham gia nhiều vào các dự án hạ tầng, doanh nghiệp lớn, đầu tư công lan tỏa và các chương trình tín dụng chính sách. Nhóm này cũng có lợi thế về quy mô huy động, niềm tin tiền gửi và khả năng tiếp cận khách hàng dự án lớn.
Thứ hai là nhóm ngân hàng tư nhân top đầu có năng lực vốn tốt, CASA và tiền gửi bán lẻ ổn định, hệ thống quản trị rủi ro tốt, đặc biệt những ngân hàng có thế mạnh ở SME, khách hàng doanh nghiệp sản xuất, chuỗi cung ứng, bán lẻ thế chấp và tài trợ đầu tư. Ngược lại, các ngân hàng nhỏ tuy cũng được nới trần về mặt pháp lý nhưng chưa chắc hưởng lợi lớn nếu đang yếu về vốn, LDR cao, nợ xấu tăng hoặc phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn thị trường 2.
Để việc nới trần này thực sự hỗ trợ tăng trưởng mà không tạo ra rủi ro nợ xấu trong tương lai, NHNN cần đi kèm những cơ chế giám sát và "phanh hãm" nào, thưa ông?
Ông Lê Hoài Ân: Nếu nâng trần lên 40%, NHNN nên đi kèm một bộ “phanh hãm” theo hướng phân tầng rủi ro từng ngân hàng, thay vì áp dụng một cách cơ học giống nhau cho toàn hệ thống.
Thứ nhất, NHNN có thể áp dụng cơ chế trần động theo sức khỏe từng tổ chức tín dụng. Không phải ngân hàng nào cũng nên được dùng ngay mức 40%. Những ngân hàng có CAR tốt, LDR an toàn, tỷ lệ nợ xấu và nợ tái cơ cấu thấp, dự phòng bao phủ tốt, nguồn vốn bán lẻ ổn định và quản trị thanh khoản tốt thì được phép sử dụng tỷ lệ cao hơn. Ngược lại, ngân hàng có thanh khoản mỏng, nợ xấu tăng nhanh hoặc phụ thuộc nhiều vào vốn ngắn hạn thị trường liên ngân hàng nên bị giữ ở mức thấp hơn.
Thứ hai, cần giám sát đích đến của dòng vốn. Phần dư địa tăng thêm nên ưu tiên các lĩnh vực có dòng tiền thật và tác động lan tỏa như hạ tầng, sản xuất, xuất khẩu, năng lượng, công nghiệp hỗ trợ, logistics, chuyển đổi xanh. Với bất động sản, đặc biệt là dự án pháp lý chưa hoàn chỉnh, hàng tồn kho lớn hoặc dòng tiền phụ thuộc vào bán hàng tương lai, cần áp dụng hệ số rủi ro, yêu cầu vốn tự có và kiểm soát giải ngân chặt hơn.
Thứ tư, cần có cơ chế giám sát hậu kiểm theo danh mục. NHNN có thể yêu cầu các ngân hàng báo cáo định kỳ phần tín dụng trung dài hạn phát sinh thêm từ dư địa mới: cho vay ngành nào, kỳ hạn bao lâu, tài sản bảo đảm gì, dòng tiền trả nợ từ đâu, nhóm nợ ra sao, tỷ lệ giải ngân theo tiến độ như thế nào. Nếu một ngân hàng dùng phần dư địa này để tăng nhanh vào lĩnh vực rủi ro, NHNN cần có quyền yêu cầu giảm tốc, tăng dự phòng hoặc quay lại ngưỡng thấp hơn.
Cuối cùng, tôi cho rằng nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn chỉ là giải pháp tình thế để hỗ trợ tăng trưởng. Về dài hạn, nền kinh tế vẫn cần phát triển mạnh hơn thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ hưu trí, bảo hiểm, quỹ đầu tư hạ tầng và các kênh vốn dài hạn khác. Nếu toàn bộ nhu cầu vốn dài hạn vẫn dồn vào ngân hàng, thì dù trần là 30% hay 40%, hệ thống ngân hàng vẫn phải gánh rủi ro kỳ hạn quá lớn.
Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!
Nguồn:'Nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn chỉ là giải pháp tình thế'
Tin liên quan
Cùng chuyên mục
Thị trường kim cương Việt Nam khủng hoảng: Cửa hàng đóng cửa và giải thể, người mua bị bỏ rơi
Tài chính 20/07/2026 07:15
Mô hình tập đoàn tài chính và dư địa tăng trưởng
Tài chính 20/07/2026 07:00
Đội vô địch World Cup 2026 nhận tiền thưởng kỷ lục hơn 1.300 tỷ đồng
Kinh tế - Tài chính 20/07/2026 00:23
IPO nửa đầu 2026: Việt Nam dẫn đầu Đông Nam Á về vốn hóa, 4 thương vụ vào top 10 khu vực
Kinh tế - Tài chính 19/07/2026 13:40
Điểm sáng của kênh trái phiếu doanh nghiệp trong nửa đầu năm 2026
Tài chính 19/07/2026 13:00
Nới lỏng tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng
Tài chính 19/07/2026 07:00
Các tin khác
Lợi nhuận ngành ngân hàng: Phân hóa trong nửa đầu năm?
Tài chính 18/07/2026 09:00
Chuyển khoản từ 400 triệu đồng có thể phải chờ 24 giờ để tránh lừa đảo
Kinh tế - Tài chính 17/07/2026 10:55
Bổ sung 5.000 tỷ đồng vốn điều lệ cho Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam
Tài chính 17/07/2026 09:00
Ngân hàng chủ động dẫn vốn vào sản xuất, xuất khẩu
Tài chính 16/07/2026 17:00
Lãi suất khó giảm nhanh, thậm chí còn neo cao đến cuối năm
Tài chính 16/07/2026 11:20
ASEAN trước làn sóng tái cấu trúc tài chính và thương mại
Tài chính 16/07/2026 11:00
Lãi suất liên ngân hàng tiếp tục hạ nhiệt, NHNN duy trì hút ròng
Tài chính 16/07/2026 09:00
Lãi suất liên ngân hàng tiếp tục hạ nhiệt, NHNN duy trì hút ròng
Kinh tế - Tài chính 15/07/2026 07:00
Ngân hàng lên sàn: Cổ đông BVBank đón ESOP, VietBank trả cổ phiếu thưởng
Tài chính 14/07/2026 09:00
Phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Tài chính 12/07/2026 15:00
Triển vọng kinh doanh tích cực hỗ trợ cổ phiếu nhóm ngân hàng Big 3
Tài chính 12/07/2026 09:00
Rủi ro nào từ nới tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn?
Tài chính 11/07/2026 07:00
Các tổ chức tín dụng dự báo tình hình thanh khoản sẽ tiếp tục cải thiện
Tài chính 10/07/2026 09:00
Giải ngân vốn đầu tư công: Một số bộ ngành, địa phương đạt thấp
Tài chính 09/07/2026 15:00
Mặt bằng lãi suất có thể đã tiệm cận vùng đỉnh?
Tài chính 09/07/2026 07:00
Nhà băng mạnh tay chia hàng chục nghìn tỷ đồng cổ tức
Tài chính 08/07/2026 11:00
Techcombank đồng tổ chức Diễn đàn tài chính cấp quốc gia VFF 2026: Dẫn dắt dòng vốn, kiến tạo tăng trưởng
Tài chính 07/07/2026 11:00
Người mua tố giác người bán không lập và giao hoá đơn được thưởng 10 triệu
Tài chính 06/07/2026 10:48
Nỗ lực gỡ thẻ vàng thủy sản và khai thác nghề cá có trách nhiệm tại các vùng biển.
Video 11/02/2025 16:16
WORLDBANK DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2024 VÀ NĂM 2025 | NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG #62
Video 24/05/2024 15:33
Tọa đàm “Xúc tiến thương mại: Khơi thông đầu ra cho sản phẩm OCOP”
Video 20/11/2023 17:25
Trao yêu thương cho em
Video 10/10/2022 14:03
Kon Tum giải cứu nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia
Video 10/10/2022 13:58
