Xu hướng lãi suất của các nền kinh tế - Chi phí vốn có còn rẻ?

Trong các chu kỳ kinh tế trước đây, mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chi phí vốn thường khá rõ ràng.

Theo đó, khi lãi suất điều hành giảm, vốn trở nên rẻ hơn, dòng tiền lan tỏa và hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, giai đoạn hiện nay đang cho thấy một sự thay đổi mang tính cấu trúc. Lãi suất điều hành tại nhiều nền kinh tế lớn có xu hướng giảm, nhưng chi phí vốn trung và dài hạn – yếu tố quyết định đầu tư và tăng trưởng của kinh tế thực – lại không giảm tương ứng.

Sự lệch pha này cho thấy dòng tiền toàn cầu đang vận động khác đi so với các chu kỳ quen thuộc, và những thay đổi đó đang dần lan sang các nền kinh tế có độ mở cao, phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng như Việt Nam.

Xu hướng lãi suất của các nền kinh tế - Chi phí vốn có còn rẻ?
Fed đã có 3 đợt cắt giảm lãi liên tiếp trong năm 2025.

Lãi suất điều hành giảm có đồng nghĩa với “vốn rẻ”?

Trong các chu kỳ trước, việc hạ lãi suất thường kéo theo chi phí vay vốn giảm, doanh nghiệp mở rộng đầu tư, người dân tăng chi tiêu và kinh tế tăng trưởng. Tuy nhiên, chu kỳ hiện nay không còn vận hành theo logic đó.

Trên thực tế, lãi suất điều hành có xu hướng giảm, nhưng lãi suất vay trung và dài hạn – loại vốn doanh nghiệp cần để đầu tư nhà xưởng và dự án – lại không giảm tương ứng. Nói cách khác, chính sách tiền tệ đã nới lỏng, nhưng chi phí vốn thực tế trong nền kinh tế không còn “rẻ” như trước.

Để lý giải hiện tượng này, cần nhìn vào trung tâm phát tín hiệu chính sách của hệ thống tài chính toàn cầu – Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED).

Fed hạ lãi suất, nhưng chi phí vay vẫn cao

Tính đến giữa tháng 12/2025, Fed đã dừng chương trình thắt chặt định lượng (QT) sau khi thu hẹp bảng cân đối kế toán hơn 2.400 tỷ USD so với giai đoạn đỉnh điểm. Trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt và thị trường lao động chậm lại, Fed tiếp tục hạ lãi suất 0,25 điểm % trong kỳ họp vừa qua. Điều này thường được hiểu là môi trường tiền tệ sẽ “dễ thở” hơn.

Ở các chu kỳ trước, việc giảm lãi suất thường khiến chi phí vay vốn giảm mạnh. Tuy nhiên, hiện nay hiệu quả này đã giảm đi rõ rệt. Lãi suất ngắn hạn phản ứng nhanh với quyết định của Fed, trong khi chi phí vay trung và dài hạn lại phụ thuộc nhiều hơn vào cung – cầu vốn và kỳ vọng lạm phát. Khi Chính phủ Mỹ và khu vực doanh nghiệp phải phát hành mới và đảo nợ với quy mô rất lớn, đặc biệt khi lượng nợ phát hành giai đoạn 2020–2021 đến kỳ đáo hạn, các tổ chức cho vay yêu cầu mức lãi suất cao hơn để bù đắp rủi ro.

Các ngân hàng đầu tư lớn hiện vẫn dự báo lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm duy trì quanh 4–4,5% trong năm 2026. Vì vậy, dù lãi suất điều hành giảm, chi phí vốn thực tế vẫn neo cao.

Khi kinh tế lớn nhất thế giới nới lỏng nhưng lãi suất dài hạn vẫn cao, điều này đặt ra nghi vấn liệu đây là hiện tượng toàn cầu. Thực tế, nhiều nơi khác cũng ghi nhận tình trạng tương tự, nổi bật là Nhật Bản – vốn nổi tiếng với lãi suất thấp trong nhiều thập kỷ.

Nhật Bản - Thay đổi từ lãi suất thấp nhất

Kể từ năm 1998, Nhật Bản luôn duy trì lãi suất cực thấp. Đây từng được xem là “mức sàn” lãi suất của kinh tế toàn cầu.

Chính sách này giúp Nhật Bản tránh suy thoái sâu và kích thích chi tiêu trong giai đoạn tăng trưởng trì trệ kéo dài. Tuy nhiên, đến những năm gần đây, các giới hạn bắt đầu bộc lộ.

Giá cả tại Nhật Bản tăng trong thời gian đủ dài khiến sức mua của người dân giảm, chi phí sinh hoạt tăng và tạo ra áp lực xã hội ngày càng rõ rệt. Đồng thời, việc giữ lãi suất quá thấp trong khi các nước khác từng tăng mạnh lãi suất khiến đồng yen mất giá, làm hàng nhập khẩu đắt đỏ.

Quan trọng hơn, NHTW Nhật Bản (BOJ) phải mua quá nhiều trái phiếu để giữ lãi suất thấp, khiến thị trường mất cân bằng và gia tăng rủi ro cho chính hệ thống tài chính. Đến một thời điểm, cái giá phải trả cho lãi suất thấp trở nên quá lớn. Nhật Bản buộc phải chấp nhận mặt bằng lãi suất cao hơn trước, dù nhiều nước khác bắt đầu nới lỏng chính sách.

Nhật Bản không tăng lãi suất vì kinh tế quá nóng, mà vì không thể tiếp tục chịu đựng hậu quả của lãi suất quá thấp. Dù bối cảnh khác biệt, diễn biến tại Nhật Bản vẫn phản ánh một thực tế chung: chi phí vốn đang trở nên đắt hơn.

Trung Quốc và làn sóng “xuất khẩu giảm phát”

Khi vay vốn trở nên đắt đỏ và rủi ro hơn, doanh nghiệp và nhà đầu tư thận trọng hơn với các quyết định đầu tư dài hạn. Dòng tiền vì vậy có xu hướng ưu tiên những khu vực có khả năng quay vòng nhanh và linh hoạt hơn.

Tiền vẫn luân chuyển trong nền kinh tế, nhưng xu hướng ưu tiên đang nghiêng nhiều hơn về các tài sản tài chính, trong khi dòng vốn vào đầu tư sản xuất và tiêu dùng tăng chậm hơn so với các chu kỳ trước. Đây là lý do dòng tiền toàn cầu tập trung nhiều hơn vào các thị trường tài sản tại các nền kinh tế phát triển – nơi hệ thống tài chính ổn định và mức độ minh bạch cao.

Tại Mỹ, dù định giá cao, thị trường chứng khoán vẫn duy trì vùng đỉnh nhờ dòng tiền cá nhân, đặc biệt ở các lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng nổi bật như công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, nền kinh tế thực đang có dấu hiệu chững lại. Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đã lên tới khoảng 4,4%, gây tác động trực tiếp đến mức tiêu dùng của những người có thu nhập thấp. Trong khi đó, nhóm thu nhập cao tiếp tục hưởng lợi từ giá nhà và chứng khoán tăng, khiến khoảng cách giàu nghèo ngày càng rõ nét.

Khi cầu toàn cầu chậm lại, áp lực đầu tiên rơi vào các nền kinh tế sản xuất quy mô lớn. Trung Quốc là trường hợp tiêu biểu phải đối mặt với tình trạng dư thừa năng lực sản xuất và phải tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

Trong bối cảnh cầu nội địa phục hồi chậm, bất động sản suy yếu và năng lực sản xuất dư thừa kéo dài, Trung Quốc gia tăng xuất khẩu như một phản ứng mang tính cấu trúc nhằm duy trì hoạt động sản xuất, thay vì là một lựa chọn chính sách ngắn hạn. Trong 11 tháng đầu năm 2025, thặng dư thương mại hàng hóa của Trung Quốc đã vượt mốc 1.000 tỷ USD, đạt khoảng 1.070 tỷ USD – mức cao kỷ lục.

Hiện tượng này thường được gọi là “xuất khẩu giảm phát”: hàng hóa được xuất ra thị trường quốc tế với giá cạnh tranh, giúp giải tỏa năng lực sản xuất dư thừa trong nước.

Hàng hóa giá cạnh tranh giúp các nước nhập khẩu kiềm chế lạm phát, nhưng đồng thời tạo áp lực lớn lên sản xuất nội địa tại những nền kinh tế có độ mở cao và gắn chặt với chuỗi cung ứng khu vực. Việt Nam nằm trong nhóm chịu tác động rõ rệt.

Việt Nam: Áp lực và nhu cầu vốn

Xu hướng lãi suất của các nền kinh tế - Chi phí vốn có còn rẻ?
Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10%, tổng nhu cầu vốn đầu tư trong 5 năm tới có thể lên tới 1.400 tỷ USD, tương đương 280 tỷ USD mỗi năm. (Ảnh minh họa: Quốc Tuấn)

Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cao, vừa phụ thuộc lớn vào xuất khẩu, vừa nhập khẩu khối lượng lớn nguyên liệu và hàng hóa trung gian từ Trung Quốc. Tính đến hết tháng 11/2025, Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại với Mỹ khoảng 121 tỷ USD, trong khi nhập siêu từ Trung Quốc lên tới khoảng 104 tỷ USD.

Trong khi đó, mô hình tăng trưởng trong nước phụ thuộc nhiều vào vốn vay ngân hàng. Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10%, tổng nhu cầu vốn đầu tư trong 5 năm tới có thể lên tới 1.400 tỷ USD, tương đương 280 tỷ USD mỗi năm. Khi chi phí vốn toàn cầu không còn rẻ, doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp cận vốn.

Trong bối cảnh huy động vốn thấp hơn cho vay kéo dài, theo các ước tính dựa trên xu hướng tăng trưởng tín dụng hiện nay, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam có thể tiệm cận khoảng 145% vào cuối năm 2025, khiến dư địa nới lỏng tiền tệ không còn nhiều. Lãi suất liên ngân hàng qua đêm đã tăng lên vùng trên 7%, trong khi Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất OMO từ 4% lên 4,5%, phát đi tín hiệu thận trọng hơn trong điều hành.

Trong bối cảnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam khó có được sự nâng đỡ rộng khắp như giai đoạn tiền rẻ trước đây. Dòng tiền đầu tư trở nên chọn lọc hơn và phụ thuộc nhiều hơn vào sức khỏe thực sự của doanh nghiệp.

Những diễn biến tại Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc phản ánh các động lực khác nhau, nhưng cùng cho thấy một xu hướng chung: Chi phí vốn toàn cầu đang duy trì ở mặt bằng cao hơn so với giai đoạn tiền rẻ trước đây.

Khi lãi suất điều hành giảm nhưng chi phí vốn thực tế không giảm tương ứng, dòng tiền vận động thận trọng hơn và lan tỏa yếu hơn vào kinh tế thực. Với những nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng như Việt Nam, tác động của xu hướng này thể hiện rõ nét hơn.

Có thể nói nhiều tín hiệu cho thấy chu kỳ tiền rẻ đã qua. Chu kỳ mới không đồng nghĩa với suy thoái, nhưng đòi hỏi kỷ luật vốn cao hơn, đầu tư chọn lọc hơn và một cách nhìn thận trọng hơn đối với tăng trưởng và thị trường tài chính.

Nguồn: Xu hướng lãi suất của các nền kinh tế - Chi phí vốn có còn rẻ?

Nguyễn Thanh Nguyên Vũ – Nhà sáng lập TVN & Partners
diendandoanhnghiep.vn
Chia sẻ

Tin liên quan

Cùng chuyên mục

Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6% kế hoạch

Giải ngân vốn đầu tư công đạt 64,6% kế hoạch

Bộ Tài chính cho biết, số giải ngân vốn đầu tư công từ đầu năm đến hết ngày 15/10/2026 là 660.739,5 tỷ đồng, đạt 64,6% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Còn 27 bộ, cơ quan trung ương và 15 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới bình quân chung cả nước.
Khơi thông vốn đầu tư, giảm áp lực cho ngân hàng

Khơi thông vốn đầu tư, giảm áp lực cho ngân hàng

Nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2026-2030 dự kiến khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, cao hơn gấp đôi 5 năm trước. Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng, Việt Nam cần đa dạng hóa kênh dẫn vốn, tháo gỡ điểm nghẽn và nâng cao hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực.
Giảm lãi suất: Không thể chỉ dừng lại ở "bao nhiêu" và "bao lâu"

Giảm lãi suất: Không thể chỉ dừng lại ở "bao nhiêu" và "bao lâu"

Vấn đề đặt ra với chuyện giảm lãi suất không chỉ là được bao nhiêu hay duy trì bao lâu, mà còn là làm thế nào để giải quyết những áp lực mang tính cấu trúc của thị trường vốn, qua đó tạo nền tảng cho một mặt bằng lãi suất ổn định, hợp lý.
Giảm lãi suất, động lực cho doanh nghiệp "bứt tốc" dịp cuối năm

Giảm lãi suất, động lực cho doanh nghiệp "bứt tốc" dịp cuối năm

Giảm lãi suất đang mở thêm dư địa hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn nước rút cuối năm 2026. Tuy nhiên, để dòng vốn thực sự trở thành động lực tăng trưởng, bài toán không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở khả năng tiếp cận tín dụng và hiệu quả sử dụng vốn.
Giảm lãi suất cho vay thực chất

Giảm lãi suất cho vay thực chất

Muốn giảm lãi suất cho vay thực chất, các tổ chức tín dụng (TCTD) phải đồng thời tiết giảm chi phí hoạt động, giảm chi phí huy động vốn và chia sẻ lợi nhuận.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất thực chất

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất thực chất

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng quán triệt trong toàn hệ thống ngân hàng thương mại, trên tất cả các kênh bán hàng tổ chức triển khai quyết liệt giảm thực chất lãi suất huy động và cho vay.

Các tin khác

Gia tăng sự phân hóa tín nhiệm giữa các nhóm ngành

Gia tăng sự phân hóa tín nhiệm giữa các nhóm ngành

Nguồn vốn và dòng tiền đang trở thành 2 "từ khóa" hết sức quan trọng với sự ổn định và tín nhiệm của doanh nghiệp, đặc biệt nhìn từ góc độ doanh nghiệp là tổ chức phát hành trái phiếu.
Kiều hối về TP HCM tăng mạnh trong quý III/2026, dự báo cả năm đạt 9,5 - 9,8 tỷ USD

Kiều hối về TP HCM tăng mạnh trong quý III/2026, dự báo cả năm đạt 9,5 - 9,8 tỷ USD

Với dự báo Quý 4/2026 đạt khoảng 2,6 - 2,9 tỷ USD, doanh số kiều hối cả năm 2026 về TP HCM ước đạt khoảng 9,5 - 9,8 tỷ USD.
"Lãi suất huy động không giảm thì không thể có cơ sở giảm lãi suất cho vay"

"Lãi suất huy động không giảm thì không thể có cơ sở giảm lãi suất cho vay"

"Nếu lãi suất huy động không giảm thì không thể có cơ sở để giảm lãi suất cho vay, đầu tiên là việc giảm lãi suất huy động niêm yết kỳ hạn 6 tháng trở lên tối thiểu 0,5%/năm"...
NHNN yêu cầu giảm lãi suất, ngân hàng không tuân thủ có thể bị hạ room tín dụng năm 2027

NHNN yêu cầu giảm lãi suất, ngân hàng không tuân thủ có thể bị hạ room tín dụng năm 2027

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5–2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên. Ngân hàng không thực hiện nghiêm chỉ đạo có thể bị xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cuối năm 2026 và giao room thấp hơ
Ngân hàng triển khai đợt giảm lãi suất cho vay

Ngân hàng triển khai đợt giảm lãi suất cho vay

Các ngân hàng được yêu cầu giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vietcombank, BIDV đã đi đầu cam kết...
Ngân hàng cần giảm lãi suất tiền gửi tối thiểu 0,5%/năm cho kỳ hạn từ 6 tháng

Ngân hàng cần giảm lãi suất tiền gửi tối thiểu 0,5%/năm cho kỳ hạn từ 6 tháng

NHNN yêu cầu triển khai các giải pháp hoạt động nhằm tiếp tục góp phần tích cực thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống ngân hàng.
Đằng sau màn trình diễn ngoạn mục của ‘xe bay’ Tesla Roadster

Đằng sau màn trình diễn ngoạn mục của ‘xe bay’ Tesla Roadster

Màn ra mắt đầy ấn tượng của mẫu Tesla Roadster chạy bằng công nghệ tên lửa, với khả năng thực hiện những pha trình diễn ấn tượng tối 15/10 có thể được xem là lời chia tay đầy phô trương của tỷ phú Elon Musk với hình ảnh Tesla trong vai trò một nhà sản xuất ô tô truyền thống.
FiinRatings: Triển vọng tín dụng ngành ngân hàng ổn định

FiinRatings: Triển vọng tín dụng ngành ngân hàng ổn định

Triển vọng tín dụng của ngành nhìn chung ổn định nhưng đang đối mặt với áp lực suy giảm ngày càng tăng với những vấn đề về lợi nhuận, rủi ro và nguồn vốn hội tụ.
Ngân hàng chạy đua lợi nhuận 2026: Cân bằng giữa mở rộng tín dụng và kiểm soát rủi ro

Ngân hàng chạy đua lợi nhuận 2026: Cân bằng giữa mở rộng tín dụng và kiểm soát rủi ro

Tín dụng đang tăng tốc, lợi nhuận ngành ngân hàng cũng có nhiều điểm tích cực. Song sức ép chi phí vốn và chất lượng tài sản đòi hỏi các ngân hàng phải cân bằng giữa mở rộng tín dụng và kiểm soát rủi ro.
Sức bật cho doanh nghiệp từ nguồn vốn ESG

Sức bật cho doanh nghiệp từ nguồn vốn ESG

Dù đầu tư cho phát triển bền vững đòi hỏi lượng vốn ban đầu lớn hơn, nhưng doanh nghiệp cần nhìn nhận chi phí của việc không hành động sẽ còn đắt đỏ hơn nhiều trước sự thay đổi của chuỗi cung ứng, mong muốn khách hàng và tiêu chuẩn của nhà đầu tư.
Động lực nào đưa giá vàng lập đỉnh mới?

Động lực nào đưa giá vàng lập đỉnh mới?

Theo các nhà đầu tư và lãnh đạo doanh nghiệp trong ngành được Financial Times dẫn lời, giá vàng có thể lập đỉnh cao kỷ lục mới trong vòng 24 tháng tới. Triển vọng này được củng cố bởi lực mua từ các ngân hàng trung ương, cùng những lo ngại về nợ công, căng thẳng địa chính trị và vị thế thống trị của đồng USD.
Lãi suất lên sát 20%, vay vốn thế nào để giữ an toàn tài chính?

Lãi suất lên sát 20%, vay vốn thế nào để giữ an toàn tài chính?

(VNF) - Lãi suất cho vay tăng cao đang tạo thêm sức ép lên ngân sách của nhiều hộ gia đình. Khi chi phí trả nợ tăng nhưng thu nhập không phải lúc nào cũng cải thiện tương ứng, người vay cần tính lại dòng tiền, cơ cấu các khoản nợ và chuẩn bị phương án ứng phó với những biến động tiếp theo.
Dự báo Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lãi suất điều hành đến hết 2027

Dự báo Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên lãi suất điều hành đến hết 2027

Trong kịch bản cơ sở, UOB tiếp tục kỳ vọng NHNN sẽ giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5% đến hết năm 2027, đồng thời sử dụng các công cụ để hỗ trợ thị trường.
Cải cách các kênh huy động, bổ sung vốn cho hệ thống ngân hàng

Cải cách các kênh huy động, bổ sung vốn cho hệ thống ngân hàng

Cách chính sách để thúc đẩy huy động vốn bổ sung cho hệ thống ngân hàng trên thị trường tiền tệ và qua mọi kênh vốn nợ, vốn cổ phần..., đang được triển khai ráo riết.
Lãi suất thả nổi lên gần 20%; tỷ giá hạ nhiệt nhanh

Lãi suất thả nổi lên gần 20%; tỷ giá hạ nhiệt nhanh

Nhiều ngân hàng nâng lãi suất cơ sở khiến người vay theo cơ chế thả nổi phải chịu mức lãi suất gần 20%. Trong khi đó, tỷ giá USD/VND hạ nhiệt đáng kể nhờ nguồn cung ngoại tệ dồi dào cùng chính sách điều hành linh hoạt.
Ngân hàng kỳ vọng tín dụng tăng trưởng 16,4% trong 2026

Ngân hàng kỳ vọng tín dụng tăng trưởng 16,4% trong 2026

Theo kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng trong quý IV/2026, các ngân hàng đã điều chỉnh kỳ vọng tăng trưởng tín dụng bình quân tăng mạnh cho cả năm.
Tăng dư địa cho vay có chất lượng

Tăng dư địa cho vay có chất lượng

Thông tư 50/2026/TT-NHNN được kỳ vọng hỗ trợ các ngân hàng về nhiều mặt, đặc biệt là quản trị thanh khoản để tăng dư địa cho vay có chất lượng trong giai đoạn tới.
Ngành nào sẽ dẫn đầu tăng trưởng lợi nhuận quý III/2026?

Ngành nào sẽ dẫn đầu tăng trưởng lợi nhuận quý III/2026?

HDB, VHM, VCG, BCM, PHR, GAS, REE, MWG, HPG, SSI, VNM, HAH, DPM, VIC, VPL, GEE... là những mã cổ phiếu đại diện các doanh nghiệp của các ngành được dự báo có tăng trưởng lợi nhuận sau thuế quý III/2026.
Xem thêm
Đổi thay nơi ngã ba biên giới Mường Nhé

Đổi thay nơi ngã ba biên giới Mường Nhé

Nỗ lực gỡ thẻ vàng thủy sản và khai thác nghề cá có trách nhiệm tại các vùng  biển.

Nỗ lực gỡ thẻ vàng thủy sản và khai thác nghề cá có trách nhiệm tại các vùng biển.

Gỡ thẻ vàng thủy sản gắn với xây dựng kinh tế biển

Gỡ thẻ vàng thủy sản gắn với xây dựng kinh tế biển

Ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam 2024 sắp diễn ra tại Quảng Trị

Ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam 2024 sắp diễn ra tại Quảng Trị

[Tổng Hợp] 6 Quy Định Mới Về Đất Đai, Nhà Ở Có Hiệu Lực Tháng 8/2024

[Tổng Hợp] 6 Quy Định Mới Về Đất Đai, Nhà Ở Có Hiệu Lực Tháng 8/2024

WORLDBANK DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2024 VÀ NĂM 2025 | NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG  #62

WORLDBANK DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2024 VÀ NĂM 2025 | NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG #62

Cụ thể, báo cáo “Điểm lại - Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam” ấn bản tháng 4/2024 của WB tại Việt Nam ngày 23/4 đã chỉ ra xuất khẩu đang phục hồi, tiêu dùng và đầu tư tư nhân trong nước cũng trên đà tăng dần. Xuất khẩu thực tế dự kiến sẽ tăng 3,5% vào năm 2024, phản ánh sự cải thiện dần dần nhu cầu toàn cầu. Ngoài ra, lĩnh vực bất động sản dự báo phục hồi mạnh hơn vào cuối năm nay và năm sau, thúc đẩy nhu cầu trong nước khi các nhà đầu tư và người tiêu dùng dần lấy lại niềm tin.
Tọa đàm “Xúc tiến thương mại: Khơi thông đầu ra cho sản phẩm OCOP”

Tọa đàm “Xúc tiến thương mại: Khơi thông đầu ra cho sản phẩm OCOP”

sản phẩm OCOP
Bác sĩ tư vấn cách phòng tránh bệnh đường hô hấp trong thời tiết giao mùa

Bác sĩ tư vấn cách phòng tránh bệnh đường hô hấp trong thời tiết giao mùa

Trao yêu thương cho em

Trao yêu thương cho em

Nhằm kết nối, sẻ chia với các trẻ em mồ côi cha, mẹ do dịch Covid-19 vừa qua trên địa bàn Cần Thơ. Tạp chí Gia đình Việt Nam tại TP Cần Thơ tổ chức Chương trình nghệ thuật “ Nối vòng yêu thương” diễn ra vào ngày 28/6/2022. Công ty Cổ phần Trầm hương sinh học TTT là đơn vị tài trợ chính cho chương trình với mong muốn các em sẽ đón nhận những tương lai tươi sáng.
Kon Tum giải cứu nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia

Kon Tum giải cứu nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia

Ngày 18/4 vừa qua, đối tượng Lê Ngọc Nhất đã dẫn Y Liên cùng 5 người khác gồm 2 nữ, 3 nam không rõ tên tuổi, không quen biết nhau sang Campuchia qua đường mòn biên giới tỉnh Long An.
Giao diện di động