TS.Lê Xuân Nghĩa: Giảm lãi suất phải bắt đầu từ ổn định kinh tế vĩ mô

Trước áp lực lãi suất cho vay có thời điểm lên tới 14 – 15%/năm, TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng, các chỉ đạo điều hành chỉ có thể phát huy tác dụng trong ngắn hạn. Muốn hạ lãi suất bền vững, cần kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và tháo gỡ những điểm nghẽn trong huy động, phân bổ vốn của nền kinh tế.

Phải xử lý các nguyên nhân mang tính chất nền tảng

- Trước áp lực lãi suất hiện nay, ông đánh giá thế nào về các chỉ đạo của cơ quan điều hành nhằm kiểm soát và kéo giảm mặt bằng lãi suất?

TS.Lê Xuân Nghĩa: Theo tôi, các chỉ đạo điều hành sẽ tạo ra tác động nhất định tới thị trường lãi suất, nhưng về lâu dài lãi suất không chỉ phụ thuộc vào yêu cầu điều hành của cơ quan quản lý, mà còn chịu tác động từ nhu cầu vốn của nền kinh tế, khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng, dòng tiền trong nền kinh tế và các điều kiện kinh tế vĩ mô.

Vì vậy, nếu chỉ sử dụng các biện pháp hành chính để yêu cầu giảm lãi suất thì có thể tạo ra hiệu ứng trước mắt, nhưng chưa chắc duy trì được kết quả trong thời gian dài. Khi nhu cầu vốn vẫn lớn, các ngân hàng vẫn chịu áp lực huy động tiền gửi và thanh khoản, mặt bằng lãi suất vẫn có những yếu tố khiến nó khó giảm bền vững.

Điều quan trọng hơn là phải xử lý các nguyên nhân nền tảng. Muốn giảm lãi suất trong dài hạn, trước hết cần quản lý kinh tế vĩ mô tốt, giữ lạm phát ở mức thấp và ổn định tỷ giá hối đoái. Đây là những điều kiện quan trọng để tạo dư địa cho lãi suất giảm mà không gây ra những bất ổn khác đối với nền kinh tế.

TS.Lê Xuân Nghĩa: Giảm lãi suất phải bắt đầu từ ổn định kinh tế vĩ mô
TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia tài chính – ngân hàng.

Cũng cần nhìn nhận rằng lãi suất không thể tách rời diễn biến của thị trường tài chính quốc tế. Việc điều hành phải tính đến các yếu tố như lạm phát, tỷ giá và điều kiện thị trường, chứ không thể chỉ đặt ra một mức lãi suất mong muốn rồi yêu cầu hệ thống ngân hàng thực hiện bằng mọi cách.

Do đó, các chỉ đạo điều hành có thể hỗ trợ xử lý áp lực trước mắt, nhưng để giảm lãi suất một cách bền vững thì phải dựa trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định. Đây mới là yếu tố quyết định khả năng duy trì mặt bằng lãi suất phù hợp với hoạt động sản xuất, kinh doanh và nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế.

- Thưa ông, trong bối cảnh lạm phát hiện ở mức thấp, nhưng lãi suất cho vay có thời điểm lên tới 14 – 15%/năm, mặt bằng phổ biến khoảng 10%/năm, ông lý giải thế nào về diễn biến này?

TS.Lê Xuân Nghĩa: Tôi cho rằng mức lãi suất cho vay hiện nay là quá cao trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn. Lạm phát đang ở mức thấp, nhưng lãi suất cho vay lại tăng lên đáng kể, có thời điểm lên tới 14–15%/năm. Đây là diễn biến cần được nhìn nhận và lý giải trong mối tương quan với tình hình kinh tế vĩ mô.

Với mức lãi suất như vậy, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, sẽ không thể hoặc không dám vay vốn để mở rộng hoạt động. Hãy thử đặt câu hỏi, trong điều kiện kinh tế hiện nay, một doanh nghiệp sản xuất phải làm thế nào để tạo ra mức lợi nhuận 15%/năm mới có thể trang trải chi phí lãi vay? Đây là bài toán rất khó.

Doanh nghiệp vay vốn để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh thì phải tính toán khả năng sinh lời, chi phí đầu vào và những rủi ro có thể phát sinh. Khi lãi suất cho vay lên quá cao, chi phí vốn sẽ trở thành gánh nặng lớn, khiến doanh nghiệp khó đưa ra quyết định đầu tư. Vì vậy, theo tôi, mức lãi suất như hiện nay là quá cao và nhiều doanh nghiệp không thể vay được.

Điều đáng chú ý là tình trạng này diễn ra trong bối cảnh lạm phát thấp. Vì thế, không thể chỉ nhìn vào lạm phát để lý giải mặt bằng lãi suất, mà cần xem xét những yếu tố khác đang tác động đến nguồn vốn và hoạt động của hệ thống ngân hàng.

- Vậy theo ông, những yếu tố nào đang tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất hiện nay?

TS.Lê Xuân Nghĩa: Tôi cho rằng có ba yếu tố chính.

Thứ nhất, nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao, khoảng 10%, trong khi khả năng đầu tư của khu vực tư nhân, bao gồm cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, Chính phủ phải đẩy mạnh huy động vốn với quy mô lớn, lên tới khoảng 100 tỷ USD.

Nguồn lực này phần lớn phải được huy động thông qua hệ thống ngân hàng, bởi thị trường vốn trong dân chưa phát triển mạnh. Người dân chưa có thói quen đầu tư vào trái phiếu, trong khi các quỹ đầu tư cũng tham gia thị trường ở mức hạn chế. Do đó, khi nhu cầu huy động vốn lớn, hệ thống ngân hàng phải gánh phần đáng kể trong việc cung ứng nguồn lực cho nền kinh tế.

Điều này tạo ra sức ép đối với dòng vốn trong hệ thống ngân hàng. Khi nhu cầu vốn gia tăng trong khi nguồn lực phải được huy động chủ yếu qua kênh ngân hàng, các tổ chức tín dụng sẽ chịu áp lực lớn hơn về nguồn vốn và thanh khoản. Đây là một trong những yếu tố cần xem xét khi lý giải diễn biến lãi suất hiện nay.

Thứ hai, dòng vốn trong nền kinh tế có tình trạng quay vòng chưa hiệu quả. Trước đây, có những tổ chức huy động được nguồn vốn lớn nhưng không sử dụng hết, sau đó lại gửi ngược trở lại hệ thống ngân hàng thương mại. Điều này khiến dòng vốn vận động qua nhiều khâu nhưng chưa được sử dụng hiệu quả cho các hoạt động kinh tế cần vốn.

Tình trạng đó tạo ra sự méo mó trong phân bổ nguồn lực và ảnh hưởng đến thanh khoản chung. Vì vậy, khi đánh giá áp lực lãi suất, cần nhìn cả vào cách dòng vốn được huy động, phân bổ và sử dụng trong nền kinh tế, chứ không chỉ xem xét quy mô tiền gửi hay nhu cầu vay vốn.

Thứ ba, các chính sách quản lý thuế, đặc biệt đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, đang tạo ra những thay đổi đáng kể trong hoạt động và dòng tiền của khu vực này.

Việc áp dụng ngưỡng doanh thu chịu thuế, yêu cầu hóa đơn, chứng từ khiến nhiều hộ kinh doanh gặp khó khăn trong việc chứng minh chi phí đầu vào. Trước những thay đổi đó, một bộ phận hộ kinh doanh có xu hướng thu hẹp hoạt động hoặc chuyển sang tích trữ, gửi tiết kiệm thay vì tiếp tục mở rộng kinh doanh.

Đây là khu vực có lượng tiền gửi đáng kể trong hệ thống ngân hàng. Khi hoạt động kinh doanh và quyết định sử dụng tiền của các hộ thay đổi, dòng tiền gửi cũng có thể biến động mạnh. Điều này tạo thêm áp lực thanh khoản đối với các ngân hàng, nhất là những ngân hàng có quy mô nhỏ.

Ba yếu tố trên có mối liên hệ với nhau, cùng tác động đến nguồn vốn và hoạt động của hệ thống ngân hàng. Vì vậy, tôi cho rằng cần nhìn nhận diễn biến lãi suất trong bối cảnh tổng thể của nền kinh tế, thay vì quy nguyên nhân cho một yếu tố đơn lẻ.

- Ông có thể phân tích rõ hơn tác động của việc các hộ kinh doanh rút tiền khỏi hệ thống ngân hàng đối với lãi suất huy động và cho vay?

TS.Lê Xuân Nghĩa: Theo tôi, diễn biến này không đơn thuần là câu chuyện hệ thống ngân hàng thiếu tiền, mà còn liên quan đến sự thay đổi đột ngột trong dòng tiền của khu vực kinh tế hộ gia đình.

Việc siết quản lý tài khoản để phục vụ tính thuế khiến một số hộ kinh doanh vốn gửi tiết kiệm với quy mô lớn, có thể lên tới hàng chục tỷ đồng, đồng loạt rút tiền trong thời gian ngắn. Khi lượng tiền gửi bị rút ra nhanh, một số ngân hàng thương mại nhỏ rơi vào áp lực thanh khoản và phải tăng lãi suất huy động để giữ chân dòng vốn.

Tôi được biết chỉ trong hai tháng đầu năm 2026, lượng tiền rút khỏi hệ thống đã tương đương lượng rút ra trong cả năm 2022. Diễn biến này buộc các ngân hàng thương mại, đặc biệt là những ngân hàng có quy mô nhỏ, phải nâng lãi suất huy động để giữ nguồn tiền gửi.

Khi ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để giữ chân người gửi tiền, chi phí đầu vào cũng chịu áp lực. Chi phí vốn tăng lên sẽ tác động đến khả năng duy trì mặt bằng lãi suất cho vay, từ đó khiến doanh nghiệp phải đối mặt với chi phí vay vốn cao hơn.

Điểm cần lưu ý là sự thay đổi này xuất phát từ dòng tiền của một bộ phận hộ kinh doanh, vốn có lượng tiền gửi đáng kể trong hệ thống. Khi họ đồng loạt rút tiền trong thời gian ngắn, tác động đến thanh khoản có thể xuất hiện nhanh, đặc biệt ở những ngân hàng có quy mô nhỏ.

Chúng tôi đã trao đổi với Ngân hàng Nhà nước về vấn đề này và kỳ vọng tình trạng trên chỉ kéo dài trong vài tháng, chứ không trở thành xu hướng dài hạn. Theo tôi, cần phân biệt áp lực thanh khoản phát sinh trong ngắn hạn với xu hướng lãi suất trong dài hạn. Hai vấn đề này không hoàn toàn giống nhau.

Muốn giảm lãi suất bền vững phải ổn định kinh tế vĩ mô

- Mặt bằng lãi suất cao sẽ tác động như thế nào đến hoạt động đầu tư và triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế, thưa ông?

TS.Lê Xuân Nghĩa: Lãi suất tăng cao sẽ làm suy giảm đầu tư, trong khi khu vực tư nhân vốn là động lực chính của nền kinh tế lại đang có dấu hiệu chững lại.

Đối với doanh nghiệp sản xuất, lãi suất cho vay ở mức 14–15%/năm là một gánh nặng lớn. Trong điều kiện kinh doanh còn nhiều khó khăn, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tạo ra tỷ suất lợi nhuận đủ cao để bù đắp chi phí vốn. Vì vậy, doanh nghiệp có thể không dám vay, hoặc phải thu hẹp kế hoạch đầu tư, mở rộng sản xuất.

Khi doanh nghiệp không muốn vay vốn, nhu cầu đầu tư có thể suy giảm. Điều này đặc biệt đáng quan tâm trong bối cảnh nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao và cần huy động một lượng vốn lớn để phục vụ phát triển. Nếu chi phí vốn quá cao, khả năng chuyển hóa nguồn vốn thành hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ gặp trở ngại.

TS.Lê Xuân Nghĩa: Giảm lãi suất phải bắt đầu từ ổn định kinh tế vĩ mô
Muốn giảm lãi suất bền vững phải ổn định kinh tế vĩ mô.

Tác động của lãi suất không chỉ giới hạn trong khu vực sản xuất. Thị trường bất động sản và hoạt động xây dựng, vốn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn vay, cũng bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu bất thường. Đây là biểu hiện cho thấy mặt bằng lãi suất cao có thể lan tỏa đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế.

Bất động sản và xây dựng là những lĩnh vực cần lượng vốn lớn, trong đó vốn vay đóng vai trò đáng kể. Khi lãi suất tăng, chi phí sử dụng vốn tăng theo, gây áp lực đối với các quyết định đầu tư và hoạt động kinh doanh. Những dấu hiệu bất thường xuất hiện ở các lĩnh vực này cũng phản ánh phần nào tác động của mặt bằng lãi suất cao đối với nền kinh tế.

Nếu tình trạng này kéo dài, chi phí vốn cao sẽ cản trở quyết định đầu tư của doanh nghiệp, trong khi nền kinh tế lại đang cần huy động nguồn lực lớn để thực hiện mục tiêu tăng trưởng. Vì vậy, theo tôi, lãi suất cần được xem xét trong mối quan hệ với khả năng đầu tư của khu vực tư nhân và yêu cầu tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.

- Trước áp lực lãi suất hiện nay, theo ông, các biện pháp chỉ đạo, điều hành hành chính có thể giúp đưa mặt bằng lãi suất xuống thấp hơn không?

TS.Lê Xuân Nghĩa: Theo tôi, những chỉ đạo hành chính có thể có tác dụng trong ngắn hạn, nhưng khó tạo ra hiệu quả lâu dài. Về dài hạn, muốn giảm lãi suất thì phải quản lý kinh tế vĩ mô thật tốt, trước hết là giữ lạm phát ở mức thấp và ổn định tỷ giá hối đoái.

Đó mới là nền tảng để có thể giảm lãi suất một cách bền vững. Nếu các điều kiện vĩ mô không ổn định, việc chỉ dựa vào những biện pháp hành chính sẽ khó tạo ra tác động lâu dài đối với mặt bằng lãi suất.

Lãi suất không thể được xem xét tách rời khỏi những yếu tố như lạm phát, tỷ giá và diễn biến của thị trường tài chính quốc tế. Những yếu tố này có ảnh hưởng đến môi trường kinh tế và điều kiện hoạt động của thị trường tài chính. Vì vậy, việc điều hành lãi suất cần đặt trong tổng thể điều hành kinh tế vĩ mô, thay vì chỉ tập trung vào các chỉ đạo nhằm hạ lãi suất trong một thời điểm nhất định.

Điều quan trọng là phải duy trì được sự ổn định của các yếu tố nền tảng này, qua đó tạo điều kiện để lãi suất giảm một cách phù hợp. Các biện pháp hành chính có thể giúp xử lý một số vấn đề trước mắt, nhưng để mặt bằng lãi suất duy trì ở mức hợp lý trong thời gian dài, nền tảng vĩ mô vẫn đóng vai trò quyết định.

- Vậy theo ông, mức lãi suất cho vay bao nhiêu là hợp lý đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn hiện nay?

TS.Lê Xuân Nghĩa: Rất khó để đưa ra một con số chính xác về mức lãi suất hợp lý. Việc xác định mặt bằng lãi suất cần dựa trên các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, như lạm phát, tỷ giá hối đoái, đồng thời phải tính đến diễn biến của thị trường tài chính quốc tế.

Do đó, không thể chỉ căn cứ vào mong muốn của doanh nghiệp để xác định lãi suất nên ở mức 6% hay 8%/năm. Mức lãi suất phù hợp cần được xem xét trong mối tương quan với điều kiện kinh tế vĩ mô và tình hình thị trường tài chính.

Điều quan trọng trước hết là phải duy trì được lạm phát thấp, tỷ giá ổn định và nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc. Khi những điều kiện đó được bảo đảm, việc giảm lãi suất mới có cơ sở để thực hiện bền vững hơn.

Tôi cho rằng không nên đưa ra một mức lãi suất cụ thể khi chưa xem xét đầy đủ các yếu tố liên quan. Lãi suất hợp lý phải được xác định trên cơ sở diễn biến thực tế của nền kinh tế, chứ không thể tách riêng khỏi các điều kiện vĩ mô và thị trường tài chính quốc tế.

Trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn:TS.Lê Xuân Nghĩa: Giảm lãi suất phải bắt đầu từ ổn định kinh tế vĩ mô

Kỳ Thư
vietnamfinance.vn
Chia sẻ

Tin liên quan

Cùng chuyên mục

TS.Lê Xuân Nghĩa: Giảm lãi suất phải bắt đầu từ ổn định kinh tế vĩ mô

TS.Lê Xuân Nghĩa: Giảm lãi suất phải bắt đầu từ ổn định kinh tế vĩ mô

Trước áp lực lãi suất cho vay có thời điểm lên tới 14 – 15%/năm, TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng, các chỉ đạo điều hành chỉ có thể phát huy tác dụng trong ngắn hạn. Muốn hạ lãi suất bền vững, cần kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và tháo gỡ những điểm nghẽn trong huy động, phân bổ vốn của nền kinh tế.

Các tin khác

GS. Đặng Hùng Võ: "Phải đánh đủ cao để người ôm đất không thể chờ tăng giá"

GS. Đặng Hùng Võ: "Phải đánh đủ cao để người ôm đất không thể chờ tăng giá"

Trước đề xuất áp thuế 0,2% với đất bỏ hoang, GS. Đặng Hùng Võ - nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, mức thuế hiện nay vẫn còn thấp, cần tăng đủ mạnh để buộc người nắm giữ đất phải đưa đất vào sử dụng hoặc chuyển nhượng cho người có năng lực khai thác, thay vì tiếp tục găm giữ chờ tăng giá.
"Không nên chỉ dựa vào lãi suất để điều tiết lạm phát"

"Không nên chỉ dựa vào lãi suất để điều tiết lạm phát"

Mặt bằng lãi suất tăng đang đặt ra bài toán cân bằng giữa kiểm soát lạm phát và duy trì động lực tăng trưởng, khi chi phí vốn tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư, mở rộng sản xuất của doanh nghiệp. TS. Huỳnh Thanh Điền, giảng viên Trường Đại học Kinh tế TP.HCM cho rằng, điều hành chính sách tiền tệ cần linh hoạt, không nên chỉ dựa vào lãi suất để kiểm soát cung tiền, đồng thời cần phát triển thị trường vốn nhằm đa dạng hóa kênh huy động nguồn lực cho nền kinh tế.
Tăng trưởng hai con số: Việt Nam không thể mãi trông vào "động lực ngoại"

Tăng trưởng hai con số: Việt Nam không thể mãi trông vào "động lực ngoại"

Tăng trưởng cao và bền vững không thể chỉ dựa vào những động lực bên ngoài mà cần được xây dựng từ năng suất lao động và sức mạnh của khu vực doanh nghiệp trong nước. TS Phạm Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần những chính sách vi mô đột phá để giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ và giảm chi phí tuân thủ.
TS Nguyễn Sĩ Dũng: Việt Nam cần những doanh nghiệp tạo dựng năng lực mới cho nền kinh tế

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Việt Nam cần những doanh nghiệp tạo dựng năng lực mới cho nền kinh tế

Trong hành trình hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, điều Việt Nam cần là những doanh nghiệp có khả năng tạo dựng năng lực phát triển mới cho nền kinh tế. TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, chia sẻ góc nhìn về vai trò của "doanh nghiệp kiến tạo".
Ngân hàng huy động vốn: Khi lãi suất không còn là vũ khí chiến lược

Ngân hàng huy động vốn: Khi lãi suất không còn là vũ khí chiến lược

Áp lực thanh khoản khiến các ngân hàng phải tăng lãi suất huy động, nhưng kéo theo đó là rủi ro suy giảm biên lãi ròng (NIM). Thực tế này cho thấy việc lấy lãi suất làm “vũ khí” cạnh tranh đã bộc lộ giới hạn nhất định.
TS. Võ Trí Thành: Cần phát triển hệ sinh thái M&A để mở rộng không gian đầu tư cho doanh nghiệp

TS. Võ Trí Thành: Cần phát triển hệ sinh thái M&A để mở rộng không gian đầu tư cho doanh nghiệp

Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho các dự án chiến lược ngày càng lớn, việc chỉ tập trung đầu tư các dự án mới sẽ khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian, chi phí và cơ hội. Theo TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) cần được nhìn nhận là một kênh đầu tư quan trọng, giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô, tiếp cận nhanh công nghệ, thị trường và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, để M&A thực sự trở thành động lực tăng trưởng, Việt Nam cần xây dựng một hệ sinh thái thị trường minh bạch với các tổ chức trung gian chuyên nghiệp.
‘Thị trường bất động sản vẫn sôi động theo cách riêng’

‘Thị trường bất động sản vẫn sôi động theo cách riêng’

Nói với Tạp chí Đầu tư Tài chính – VietnamFinance, ông Phạm Đức Toản, Tổng giám đốc EZ Property, cho rằng bất chấp những áp lực không nhỏ, thị trường bất động sản vẫn duy trì được “nhiệt” tại những địa bàn và phân khúc có giá trị thực và giá cả phù hợp.
TS Võ Trí Thành: Dữ liệu là "mỏ vàng" nhưng là bài toán khó nhất hiện nay

TS Võ Trí Thành: Dữ liệu là "mỏ vàng" nhưng là bài toán khó nhất hiện nay

TS Võ Trí Thành cho rằng trong nền kinh tế số, dữ liệu đang trở thành nguồn lực có giá trị như một “mỏ vàng”, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, việc quản trị, phân bổ và kiểm soát dữ liệu lại đặt ra những thách thức phức tạp, từ quyền sở hữu, quyền riêng tư đến cân bằng giữa tự do hóa và an ninh, khiến đây trở thành một trong những bài toán khó nhất hiện nay.
Muốn tăng trưởng đột phá, phải trao quyền "làm chủ" chương trình quốc gia cho tư nhân

Muốn tăng trưởng đột phá, phải trao quyền "làm chủ" chương trình quốc gia cho tư nhân

“Nếu thực sự tin và trao quyền đúng nghĩa, để doanh nghiệp tư nhân tham gia với tư cách chủ nhân các chương trình hành động quốc gia, Việt Nam có thể tạo ra năng lực bứt phá chưa từng có”, PGS.TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh khi bàn về động lực tăng trưởng mới.
Giá nhiên liệu tăng, doanh nghiệp nguy cơ “càng bay càng lỗ”

Giá nhiên liệu tăng, doanh nghiệp nguy cơ “càng bay càng lỗ”

Xung đột Trung Đông làm đảo lộn mạng bay, chi phí hàng không Việt Nam tăng mạnh, các hãng hàng không kiến nghị gỡ khó về thuế, tín dụng và áp dụng cơ chế linh hoạt.
"Chiến sự Trung Đông nguy cơ lan rộng, Việt Nam cần có phương án hành động cụ thể cho từng tình huống"

"Chiến sự Trung Đông nguy cơ lan rộng, Việt Nam cần có phương án hành động cụ thể cho từng tình huống"

Theo TS Nguyễn Trí Hiếu, với độ mở kinh tế lớn và phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế cũng như dòng vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam có thể chịu tác động đáng kể nếu xung đột Trung Đông leo thang và kéo kinh tế thế giới vào suy thoái. Trong bối cảnh đó, việc chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó và đa dạng hóa thị trường được xem là yếu tố quan trọng để giảm thiểu rủi ro.
"Việt Nam có thể sản sinh nhiều doanh nhân đẳng cấp toàn cầu"

"Việt Nam có thể sản sinh nhiều doanh nhân đẳng cấp toàn cầu"

Trao đổi cùng Tạp chí Đầu tư Tài chính - VietnamFinance, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Ủy viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội khẳng định trong hành trình vươn mình trở thành một quốc gia hùng vường và thịnh vượng, Việt Nam buộc phải xây dựng được một lực lượng doanh nghiệp tư nhân vững mạnh.
Cơ hội nào cho trung tâm dữ liệu AI ngoài không gian?

Cơ hội nào cho trung tâm dữ liệu AI ngoài không gian?

Nhiều chuyên gia cho rằng, ý tưởng xây các trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo (AI) gần trái đất của các tỷ phú công nghệ không hoàn toàn là khoa học viễn tưởng.
Kinh tế Việt Nam qua "lăng kính" chuyên gia: Nhìn lại 2025, khai mở dư địa 2026

Kinh tế Việt Nam qua "lăng kính" chuyên gia: Nhìn lại 2025, khai mở dư địa 2026

Năm 2025 khép lại với nhiều dấu ấn quan trọng của kinh tế nước ta trong bối cảnh thế giới biến động mạnh, bất ổn gia tăng và các cú sốc bên ngoài diễn ra dồn dập.
Thuế hộ kinh doanh năm 2026: Gánh nặng hay áp lực để lớn lên?

Thuế hộ kinh doanh năm 2026: Gánh nặng hay áp lực để lớn lên?

Theo PGS.TS Ngô Trí Long, việc thay đổi căn bản về mô hình quản lý thuế đối với hộ kinh doanh không chỉ là tăng - giảm nghĩa vụ thuế mà đây là một cuộc tái thiết quan hệ giữa nhà nước và khu vực kinh tế nhỏ từ quản lý bằng cảm tính sang theo dữ liệu chuẩn mực.
TS.Trần Đình Thiên: "Tăng trưởng hai con số là cách Việt Nam vượt lên chính mình"

TS.Trần Đình Thiên: "Tăng trưởng hai con số là cách Việt Nam vượt lên chính mình"

TS.Trần Đình Thiên cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội hiếm có để tạo bước nhảy vọt, nếu dám theo đuổi mục tiêu tăng trưởng hai con số một cách thực chất và bền vững. Trong bối cảnh kinh tế thế giới phân hóa mạnh, đây chính là “cách Việt Nam vượt lên chính mình”, thoát khỏi quỹ đạo tăng trưởng trung bình và hình thành sức bật mới cho nền kinh tế.
"Kinh doanh có trách nhiệm không còn là tiêu chuẩn mà là lựa chọn bắt buộc’

"Kinh doanh có trách nhiệm không còn là tiêu chuẩn mà là lựa chọn bắt buộc’

Ông Nguyễn Tiến Huy, Giám đốc Văn phòng Doanh nghiệp vì sự Phát triển bền vững (VCCI) cho biết, trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ và yêu cầu ngày càng cao từ thị trường quốc tế, kinh doanh có trách nhiệm không còn là lựa chọn tự nguyện, mà đã trở thành một tiêu chuẩn bắt buộc.
5 tư duy lãnh đạo cần thay đổi để hướng tới thành công

5 tư duy lãnh đạo cần thay đổi để hướng tới thành công

Tư duy lãnh đạo là một điều cốt yếu và mang yếu tố sống còn đối với nhà lãnh đạo trong cuộc phát triển vượt bậc của công nghệ 4.0. Công nghệ càng phát triển, tư duy lại cần phải thay đổi và không ngừng nâng cao. Qua bài viết này, tôi sẽ chia sẻ đến bạn 5 tư duy lãnh đạo cần thay đổi để hướng tới thành công.
Xem thêm
Đổi thay nơi ngã ba biên giới Mường Nhé

Đổi thay nơi ngã ba biên giới Mường Nhé

Nỗ lực gỡ thẻ vàng thủy sản và khai thác nghề cá có trách nhiệm tại các vùng  biển.

Nỗ lực gỡ thẻ vàng thủy sản và khai thác nghề cá có trách nhiệm tại các vùng biển.

Gỡ thẻ vàng thủy sản gắn với xây dựng kinh tế biển

Gỡ thẻ vàng thủy sản gắn với xây dựng kinh tế biển

Ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam 2024 sắp diễn ra tại Quảng Trị

Ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam 2024 sắp diễn ra tại Quảng Trị

[Tổng Hợp] 6 Quy Định Mới Về Đất Đai, Nhà Ở Có Hiệu Lực Tháng 8/2024

[Tổng Hợp] 6 Quy Định Mới Về Đất Đai, Nhà Ở Có Hiệu Lực Tháng 8/2024

WORLDBANK DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2024 VÀ NĂM 2025 | NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG  #62

WORLDBANK DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2024 VÀ NĂM 2025 | NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG #62

Cụ thể, báo cáo “Điểm lại - Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam” ấn bản tháng 4/2024 của WB tại Việt Nam ngày 23/4 đã chỉ ra xuất khẩu đang phục hồi, tiêu dùng và đầu tư tư nhân trong nước cũng trên đà tăng dần. Xuất khẩu thực tế dự kiến sẽ tăng 3,5% vào năm 2024, phản ánh sự cải thiện dần dần nhu cầu toàn cầu. Ngoài ra, lĩnh vực bất động sản dự báo phục hồi mạnh hơn vào cuối năm nay và năm sau, thúc đẩy nhu cầu trong nước khi các nhà đầu tư và người tiêu dùng dần lấy lại niềm tin.
Tọa đàm “Xúc tiến thương mại: Khơi thông đầu ra cho sản phẩm OCOP”

Tọa đàm “Xúc tiến thương mại: Khơi thông đầu ra cho sản phẩm OCOP”

sản phẩm OCOP
Bác sĩ tư vấn cách phòng tránh bệnh đường hô hấp trong thời tiết giao mùa

Bác sĩ tư vấn cách phòng tránh bệnh đường hô hấp trong thời tiết giao mùa

Trao yêu thương cho em

Trao yêu thương cho em

Nhằm kết nối, sẻ chia với các trẻ em mồ côi cha, mẹ do dịch Covid-19 vừa qua trên địa bàn Cần Thơ. Tạp chí Gia đình Việt Nam tại TP Cần Thơ tổ chức Chương trình nghệ thuật “ Nối vòng yêu thương” diễn ra vào ngày 28/6/2022. Công ty Cổ phần Trầm hương sinh học TTT là đơn vị tài trợ chính cho chương trình với mong muốn các em sẽ đón nhận những tương lai tươi sáng.
Kon Tum giải cứu nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia

Kon Tum giải cứu nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia

Ngày 18/4 vừa qua, đối tượng Lê Ngọc Nhất đã dẫn Y Liên cùng 5 người khác gồm 2 nữ, 3 nam không rõ tên tuổi, không quen biết nhau sang Campuchia qua đường mòn biên giới tỉnh Long An.
Giao diện di động