Lãi suất giảm nhanh: Thời kỳ vốn rẻ sẽ duy trì được bao lâu?
Tín dụng tăng nhanh, ngân hàng chịu sức ép huy động vốn
Những tháng cuối năm 2026, hệ thống ngân hàng Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa giảm chi phí vốn để hỗ trợ doanh nghiệp, vừa bảo đảm nguồn lực đáp ứng nhu cầu tín dụng đang tăng cao.
Ngày 21/10, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm ít nhất 0,5 điểm phần trăm lãi suất bình quân đối với tiền gửi mới có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên trong những tháng còn lại của năm. Các ngân hàng đồng thời được yêu cầu tiết giảm chi phí để hạ lãi suất cho vay đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
Đến cuối tháng 10, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã vượt 20,87 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 12,27% so với cuối năm 2025. Trước đó, đến cuối tháng 9, dư nợ đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% từ đầu năm và 16,69% so với cùng kỳ.
Ở chiều huy động, đến giữa tháng 10, nguồn vốn tăng khoảng 11,22%, khá sát với mức tăng tín dụng 11,44%. Trong khi đó, lãi suất bình quân đối với tiền gửi mới đến ngày 20/9 đạt khoảng 6,38%, cao hơn 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.
![]() |
Khoảng cách giữa tốc độ huy động và cho vay cho thấy các ngân hàng vẫn phải duy trì khả năng thu hút tiền gửi để đáp ứng quy mô tín dụng đang mở rộng. Việc giảm lãi suất huy động có thể giúp hạ chi phí vốn bình quân, nhưng cũng đặt ra yêu cầu duy trì sức hấp dẫn của tiền gửi khi nhu cầu vốn tiếp tục tăng.
Một điểm đáng chú ý là khoảng 80% tiền gửi trong hệ thống hiện có kỳ hạn ngắn, theo thông tin Ngân hàng Nhà nước công bố cuối tháng 10, trong khi nền kinh tế cần lượng vốn trung và dài hạn lớn hơn. Vì vậy, vấn đề không chỉ nằm ở tổng quy mô tiền gửi mà còn ở độ ổn định và kỳ hạn của nguồn vốn.
Các ngân hàng có thể huy động vốn từ nhiều kênh như tiền gửi cá nhân, doanh nghiệp, thị trường liên ngân hàng, phát hành giấy tờ có giá và nguồn vốn quốc tế. Mỗi kênh có chi phí và kỳ hạn khác nhau. Điều này lý giải vì sao lãi suất tiền gửi niêm yết có thể giảm nhưng chi phí vốn ở biên vẫn chưa hạ tương ứng.
Theo Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, đến cuối tháng 10, lãi suất tiền gửi mới phát sinh bình quân đã giảm khoảng 0,4 điểm phần trăm so với giữa tháng. Lãi suất cho vay đối với các khoản vay mới cũng giảm khoảng 0,2 đến 0,5 điểm phần trăm. Hơn 20 ngân hàng triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi, với mức giảm lãi suất từ 1,5 đến 2 điểm phần trăm mỗi năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
Tuy nhiên, lãi suất qua đêm VND trên thị trường liên ngân hàng vẫn quanh 6%/năm. Trong tuần từ ngày 26 đến 30/10, Ngân hàng Nhà nước cũng bơm ròng hơn 28.000 tỷ đồng qua nghiệp vụ thị trường mở.
Ông Sana Ur Rehman, Chuyên viên Phân tích Thị trường cấp cao tại EBC Financial Group, cho biết hai loại lãi suất này phản ánh những khía cạnh khác nhau của chi phí vốn. Lãi suất tiền gửi thể hiện mức giá ngân hàng trả để huy động tiền từ khách hàng, còn lãi suất liên ngân hàng phản ánh chi phí thanh khoản ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng.
Ông cho rằng khi đánh giá chi phí vốn thực tế, thị trường cần quan sát cả hai yếu tố thay vì chỉ nhìn vào bảng lãi suất niêm yết.
“Lãi suất cho vay thấp hơn chỉ bền vững khi phía sau đó là một nguồn vốn đủ ổn định. Các ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất huy động và cho vay, nhưng mức độ truyền dẫn còn phụ thuộc vào khả năng huy động tiền gửi, chi phí thanh khoản ở biên và tốc độ tăng tín dụng. Tín dụng rẻ hơn vẫn cần được tài trợ từ một nền tảng vốn đủ bền vững”, ông Rehman nhận định.
Ở góc độ ngân hàng thương mại, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank, cho rằng việc giảm chi phí huy động vốn cần đi cùng với yêu cầu bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền. Nếu lãi suất tiền gửi giảm không phù hợp với diễn biến thị trường, dòng tiền có thể dịch chuyển giữa các ngân hàng, đặc biệt khi các tổ chức tín dụng có quy mô và khả năng cạnh tranh khác nhau.
Theo TS. Đào Minh Tú, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, muốn giảm lãi suất bền vững cần phối hợp chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa, đồng thời phát triển các kênh cung ứng vốn ngoài ngân hàng. Khi thị trường vốn phát triển, doanh nghiệp có thêm lựa chọn huy động thông qua trái phiếu và các nguồn vốn dài hạn khác, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn lên hệ thống tín dụng.
Một thay đổi khác liên quan đến quản trị thanh khoản sẽ có hiệu lực từ ngày 1/12, khi Thông tư 50/2026/TT-NHNN mở đường cho hệ thống ngân hàng tiến dần tới các chuẩn quản trị mới như tỷ lệ bao phủ thanh khoản (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR).
Các quy định này đặt trọng tâm vào khả năng duy trì tài sản thanh khoản trong ngắn hạn và xây dựng nguồn vốn ổn định để tài trợ cho các tài sản có kỳ hạn dài hơn. Tuy nhiên, theo EBC, việc có thêm dư địa quản trị bảng cân đối không đồng nghĩa ngân hàng tự động có thêm nguồn tiền để cho vay.
Các khoản tín dụng mới vẫn phải được tài trợ bằng tiền gửi, phát hành trên thị trường vốn, nguồn vốn quốc tế hoặc những kênh huy động khác. Do đó, khả năng mở rộng cho vay tiếp tục phụ thuộc vào chất lượng và độ ổn định của nguồn vốn thực tế.
Lạm phát, tỷ giá và khả năng DN tiếp cận vốn rẻ
Bên cạnh áp lực huy động vốn, khả năng duy trì lãi suất thấp còn phụ thuộc vào diễn biến lạm phát và tỷ giá. Đây là những yếu tố có thể ảnh hưởng đến dư địa điều hành chính sách tiền tệ trong những tháng cuối năm.
Tháng 10, CPI tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát bình quân 10 tháng tăng 4,57%, trong khi lạm phát cơ bản ở mức 4,24%. Những con số này cho thấy việc giảm chi phí vốn cần được cân đối với mục tiêu kiểm soát giá cả và duy trì ổn định thanh khoản.
Trên thị trường liên ngân hàng, cuối tháng 10, lãi suất VND ngắn hạn vẫn cao hơn lãi suất USD tương ứng, trong khi chỉ số giá USD trong nước giảm so với tháng trước.
![]() |
Theo EBC, tác động của lãi suất đối với tỷ giá cần được xem xét cùng nhiều yếu tố khác, bao gồm chênh lệch lãi suất VND và USD, dòng vốn FDI, xuất khẩu, đầu tư gián tiếp, thanh khoản trong nước và diễn biến của đồng USD quốc tế.
Việc giảm lãi suất có thể hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chi phí vay thấp hơn, nhưng chênh lệch lãi suất giữa VND và USD cũng cần duy trì ở mức phù hợp để giữ sức hấp dẫn của đồng nội tệ và hạn chế áp lực lên thị trường ngoại hối.
Theo ông Suan Teck Kin, Giám đốc Nghiên cứu kinh tế và thị trường toàn cầu tại UOB Singapore, diễn biến lãi suất USD là một trong những yếu tố cần theo dõi khi đánh giá dư địa điều hành tiền tệ của Việt Nam. Lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao có thể làm gia tăng áp lực đối với tỷ giá và khiến việc giảm lãi suất VND trở nên khó khăn hơn.
EBC cho rằng nếu tiền gửi tiếp tục tăng ổn định, thanh khoản liên ngân hàng hạ nhiệt và lạm phát được kiểm soát, dư địa giảm chi phí cho vay sẽ thuận lợi hơn. Ngược lại, nếu lãi suất huy động giảm nhanh trong khi tín dụng tiếp tục tăng mạnh, các ngân hàng có thể phải bổ sung vốn từ những kênh có chi phí cao hơn. Khi đó, mức giảm lãi suất mà doanh nghiệp thực sự nhận được có thể thấp hơn mức điều chỉnh trên bảng niêm yết.
Đối với doanh nghiệp, vấn đề quan trọng không chỉ là ngân hàng có giảm lãi suất hay không mà còn là khả năng tiếp cận khoản vay với chi phí thực tế thấp hơn.
Theo số liệu của EBC, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay VND mới và hiện hữu trong tháng 9 vẫn ở mức 8,4 đến 10,9%/năm. Trong khi đó, các khoản vay ngắn hạn dành cho một số lĩnh vực ưu tiên có mức bình quân thấp hơn đáng kể.
Khoảng cách này phản ánh sự khác biệt về hồ sơ tín dụng, tài sản bảo đảm, kỳ hạn, ngành nghề và mức độ rủi ro của từng doanh nghiệp. Vì vậy, tác động của đợt giảm lãi suất sẽ thể hiện rõ hơn khi mức giảm không chỉ dừng ở các chương trình ưu đãi mà còn lan sang mặt bằng chi phí vốn mà doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi có thể tiếp cận.
Ông Sana Ur Rehman cho rằng mục tiêu giảm chi phí vay có thể hỗ trợ hoạt động sản xuất, đầu tư và tăng trưởng vào cuối năm. Tuy nhiên, vấn đề nằm ở mức độ lãi suất huy động giảm có thể truyền sang người đi vay trong khi nhu cầu tín dụng vẫn cao.
“Nếu huy động tiền gửi duy trì ổn định, thanh khoản liên ngân hàng ở mức bình thường và lạm phát được kiểm soát, mặt bằng lãi suất thấp hơn sẽ có nền tảng vững chắc hơn. Nếu các yếu tố này diễn biến lệch pha, lãi suất niêm yết có thể giảm nhanh hơn chi phí vốn thực tế của hệ thống”, ông nhận định.
Từ nay đến cuối năm, EBC cho rằng cần theo dõi mức giảm thực tế của lãi suất tiền gửi mới từ 6 tháng trở lên, tốc độ tăng tín dụng so với huy động vốn, diễn biến lãi suất liên ngân hàng và hoạt động bơm hút tiền của Ngân hàng Nhà nước. Bên cạnh đó là mức lãi suất cho vay doanh nghiệp thực sự tiếp cận, CPI, lạm phát cơ bản và diễn biến tỷ giá.
Như vậy, khả năng duy trì tín dụng rẻ hơn không chỉ phụ thuộc vào yêu cầu giảm lãi suất của cơ quan quản lý hay mức điều chỉnh của từng ngân hàng. Yếu tố quyết định còn nằm ở khả năng duy trì nguồn vốn đủ ổn định để đáp ứng nhu cầu tín dụng, đồng thời bảo đảm cân đối giữa thanh khoản, lạm phát và tỷ giá.
Nguồn:Lãi suất giảm nhanh: Thời kỳ vốn rẻ sẽ duy trì được bao lâu?
Tin liên quan
Harry Kane nhận đãi ngộ đặc biệt sau khi đoạt Quả bóng Vàng 07/11/2026 10:19
Giá vàng hôm nay 7/11: Vàng thế giới giảm không phanh 07/11/2026 10:02
Vì sao các quỹ ETF giảm tỷ trọng cổ phiếu ngân hàng? 07/11/2026 09:00
Cùng chuyên mục
Lãi suất giảm nhanh: Thời kỳ vốn rẻ sẽ duy trì được bao lâu?
Kinh tế - Tài chính 07/11/2026 10:13
Các tin khác
Vì sao các quỹ ETF giảm tỷ trọng cổ phiếu ngân hàng?
Chứng khoán 07/11/2026 09:00
Các trụ cột để chuyển hóa nguồn lực, tăng trưởng kinh tế cao và bền vững
Kinh tế 07/11/2026 07:00
Nợ xấu gia tăng, ngân hàng chịu sức ép củng cố dự phòng
Tài chính 06/11/2026 15:00
Giá vàng hôm nay 6/11: Vàng thế giới tiếp tục tăng, vàng miếng lao dốc
Thị trường 06/11/2026 10:08
Sau đỉnh lãi suất, điều gì quyết định sức hấp dẫn của tài sản?
Kinh tế 06/11/2026 09:00
Ngân hàng duy trì NIM ổn định, huy động tiếp tục phục hồi
Tài chính 06/11/2026 07:00
Hà Nội dành 50 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, bán hàng trực tuyến
Kinh tế 05/11/2026 15:00
Nông, lâm, thủy sản tăng sản lượng, củng cố nguồn cung cho thị trường cuối năm
Thị trường 05/11/2026 13:00
Giá vàng hôm nay 5/11: Tăng tới 4 triệu/lượng sau một đêm
Thị trường 05/11/2026 11:21
VIFC góp phần tháo gỡ những rào cản đối với dòng vốn đầu tư vào Việt Nam
Chứng khoán 05/11/2026 09:00
Tỷ giá USD/VND từ nay đến cuối năm dự báo ra sao?
Tài chính 05/11/2026 07:00
Tín dụng tăng, vì sao lợi nhuận nhiều ngân hàng vẫn giảm?
Tài chính 04/11/2026 15:00
Giá vàng hôm nay 4/11: Vàng miếng ‘nhảy vọt’, vàng nhẫn biến động trái chiều
Kinh tế - Tài chính 04/11/2026 10:47
Việt Nam kỳ vọng trở thành đối tác phát triển, hợp tác đầu tư toàn cầu
Tài chính 04/11/2026 09:00
Các ngân hàng đã triển khai hạ lãi suất ra sao?
Tài chính 04/11/2026 07:00
Hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư, bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước
Kinh tế 03/11/2026 15:00
Lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết tăng mạnh trong quý III/2026
Tài chính 03/11/2026 13:00
Xuất khẩu sang Vương Quốc Anh: 2 hiệp định, 1 bài toán lựa chọn
Kinh tế 03/11/2026 11:00
Nỗ lực gỡ thẻ vàng thủy sản và khai thác nghề cá có trách nhiệm tại các vùng biển.
Video 11/02/2025 16:16
WORLDBANK DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2024 VÀ NĂM 2025 | NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG #62
Video 24/05/2024 15:33
Tọa đàm “Xúc tiến thương mại: Khơi thông đầu ra cho sản phẩm OCOP”
Video 20/11/2023 17:25
Trao yêu thương cho em
Video 10/10/2022 14:03
Kon Tum giải cứu nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia
Video 10/10/2022 13:58

