Nợ xấu gia tăng, ngân hàng chịu sức ép củng cố dự phòng

Nợ cần chú ý và các khoản nợ dưới tiêu chuẩn tăng tại nhiều ngân hàng, trong khi khả năng bao phủ dự phòng có sự phân hóa rõ rệt. Diễn biến này đặt ra yêu cầu nhìn sâu vào chất lượng lợi nhuận, năng lực thu hồi vốn và nguồn lực xử lý rủi ro của từng nhà băng.

Áp lực nằm cả ở những khoản nợ chưa chuyển xấu

Tổng hợp báo cáo tài chính quý III/2026 của 28 ngân hàng cho thấy, nợ xấu nội bảng đạt 340.444 tỷ đồng tại ngày 30/9. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn chiếm 48,6%. Phạm vi thống kê này phản ánh tình hình của nhóm ngân hàng được khảo sát, không phải tổng nợ xấu của toàn bộ hệ thống tổ chức tín dụng.

Tại VietinBank, nợ xấu đạt 25.781 tỷ đồng, tăng 17,6% so với đầu năm; nợ nhóm 2 tăng gần 33%. BIDV ghi nhận nợ xấu 47.486 tỷ đồng, tăng 35,8%, còn nợ nhóm 2 lên 39.505 tỷ đồng. Vietcombank có nợ xấu 12.816 tỷ đồng, tăng 31,9%.

Khả năng dự phòng cũng khác biệt đáng kể. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của Vietcombank đạt 243%, VietinBank đạt 160,4%, trong khi BIDV khoảng 73%. Tại nhóm ngân hàng cổ phần, tỷ lệ này của Techcombank là 107%, MB gần 85%, PVcomBank khoảng 50,1% và PGBank 30,5%.

Những con số trên cho thấy áp lực chất lượng tài sản cần được xem xét từ cả quy mô nợ xấu lẫn nguồn dự phòng đi kèm. Hai ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tương đương vẫn có thể đứng trước sức ép tài chính khác nhau nếu khả năng bao phủ, chất lượng tài sản bảo đảm và triển vọng thu hồi nợ khác biệt.

Đáng chú ý, rủi ro còn nằm ở những khoản vay chưa được phân loại thành nợ xấu. Nợ nhóm 2 là nợ cần chú ý, chưa thuộc các nhóm nợ xấu từ nhóm 3 đến nhóm 5. Tuy nhiên, sự gia tăng của nhóm này là tín hiệu cần theo dõi, bởi một phần có thể chuyển sang nhóm rủi ro cao hơn nếu dòng tiền và khả năng trả nợ của khách hàng tiếp tục suy giảm.

Không phải toàn bộ nợ nhóm 2 đều sẽ trở thành nợ xấu. Khách hàng có thể khắc phục chậm trả và phục hồi hoạt động. Dù vậy, khi quy mô nợ cần chú ý tăng, ngân hàng phải dành thêm nguồn lực giám sát, đánh giá lại dòng tiền và chủ động phương án xử lý. Việc phát hiện sớm có ý nghĩa lớn hơn chờ đến khi khoản vay chuyển nhóm rồi mới tìm giải pháp thu hồi.

Tương tự, tỷ trọng nợ có khả năng mất vốn giảm chưa đủ để kết luận chất lượng tín dụng đã cải thiện. Tỷ trọng có thể giảm do các nhóm nợ khác tăng nhanh hơn. Vì thế, cần đọc đồng thời giá trị tuyệt đối của từng nhóm, lượng nợ mới phát sinh và kết quả thu hồi trong kỳ.

Tỷ lệ nợ xấu cũng cần được đặt cạnh tốc độ mở rộng tín dụng. Khi dư nợ tăng nhanh, mẫu số tính toán lớn hơn có thể khiến tỷ lệ nợ xấu biến động ít, dù giá trị nợ xấu vẫn tăng đáng kể. Để đánh giá đầy đủ, cần xem ngân hàng đang kiểm soát được nợ phát sinh mới đến đâu và đã thu hồi bao nhiêu tiền từ các khoản vay có vấn đề.

Đây là điểm quan trọng khi xem xét chất lượng tăng trưởng. Tín dụng mở rộng giúp tạo nguồn thu, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc khả năng thu đủ gốc và lãi. Nếu khoản vay mới tăng nhanh trong khi nợ cũ chậm được xử lý, sức ép có thể tích tụ và bộc lộ rõ hơn ở những kỳ sau.

Nợ xấu gia tăng, ngân hàng chịu sức ép củng cố dự phòng
Nợ cần chú ý và các khoản nợ dưới tiêu chuẩn tăng tại nhiều ngân hàng, trong khi khả năng bao phủ dự phòng có sự phân hóa rõ rệt

Dự phòng mỏng làm tăng sức ép lên lợi nhuận

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành được ghi nhận ở khoảng 80%, mức thấp nhất trong 5 năm. Chỉ tiêu này phản ánh quy mô dự phòng so với nợ xấu tại một thời điểm, qua đó cho thấy mức độ nguồn lực đã được dành ra để ứng phó rủi ro tín dụng.

Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ dưới 100% không đồng nghĩa ngân hàng thiếu khả năng thanh toán hay toàn bộ phần nợ chưa được bao phủ sẽ trở thành tổn thất. Khả năng thu hồi còn phụ thuộc tài sản bảo đảm, tình trạng pháp lý, triển vọng phục hồi của khách hàng và tiến độ xử lý từng khoản vay.

Ở chiều ngược lại, tỷ lệ bao phủ cao cũng cần được đặt trong diễn biến cụ thể. Chỉ tiêu này có thể cải thiện nhờ tăng dự phòng, giảm nợ xấu hoặc kết hợp cả hai. Vì vậy, việc đọc riêng một tỷ lệ tại cuối kỳ khó phản ánh hết những thay đổi trong chất lượng tài sản.

Về bản chất, khi nợ xấu tăng và nguồn dự phòng chưa theo kịp, áp lực trích lập bổ sung có thể xuất hiện trong các kỳ tiếp theo. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, bởi chi phí dự phòng được ghi nhận trước khi xác định kết quả kinh doanh.

Do đó, lợi nhuận tăng cần được xem cùng diễn biến chi phí dự phòng. Nếu lợi nhuận cải thiện trong khi mức trích lập giảm, cần làm rõ sự thay đổi đến từ chất lượng khoản vay tốt lên, kết quả thu hồi nợ tích cực hay biến động của cơ cấu tín dụng. Chỉ riêng mức giảm chi phí dự phòng chưa đủ để đánh giá ngân hàng đang thận trọng hơn hay chấp nhận rủi ro lớn hơn.

Sức ép càng đáng lưu ý khi ngân hàng đồng thời phải giảm lãi suất cho vay và duy trì khả năng sinh lời. Trong trường hợp thu nhập tăng chậm, nhu cầu trích lập bổ sung sẽ thu hẹp phần lợi nhuận còn lại. Khi đó, hiệu quả vận hành, khả năng kiểm soát nợ phát sinh mới và thu hồi nợ cũ trở thành những yếu tố quyết định.

Ở chiều xử lý, tài sản bảo đảm chỉ thực sự hỗ trợ thu hồi vốn khi có thể hoàn thiện thủ tục, chuyển nhượng và nhận tiền. Giá trị định giá trên hồ sơ không tự động chuyển thành dòng tiền trả nợ. Một tài sản có giá trị lớn nhưng vướng pháp lý hoặc khó tìm người mua vẫn có thể kéo dài thời gian xử lý.

Thời gian kéo dài còn làm phát sinh chi phí quản lý, bảo quản và giải quyết tranh chấp. Nếu thị trường thay đổi, giá bán thực tế có thể khác đáng kể so với mức định giá trước đó. Bởi vậy, chất lượng tài sản bảo đảm cần được đánh giá cả về giá trị lẫn khả năng chuyển thành tiền.

Củng cố dự phòng vì thế phải gắn với thu hồi nợ thực chất. Với khách hàng còn khả năng phục hồi, ngân hàng cần đánh giá phương án kinh doanh và dòng tiền trả nợ một cách thận trọng. Với khoản vay khó thu hồi, việc hoàn thiện hồ sơ pháp lý, cập nhật giá trị tài sản và lựa chọn phương án xử lý cần được thực hiện chủ động.

Một thị trường mua bán nợ minh bạch có thể hỗ trợ quá trình này. Tuy nhiên, khả năng giao dịch phụ thuộc vào hồ sơ khoản nợ, quyền xử lý tài sản, mức giá và kỳ vọng thu hồi của bên mua. Khoản nợ được chào bán chưa đồng nghĩa ngân hàng đã giải quyết xong rủi ro.

Trong bối cảnh đó, năng lực của mỗi nhà băng cần được nhìn qua khả năng biến dư nợ thành dòng tiền thu về, duy trì dự phòng phù hợp và kiểm soát tổn thất. Đây cũng là cơ sở để đánh giá lợi nhuận hiện tại có thể được duy trì đến đâu khi áp lực chất lượng tài sản tiếp tục hiện hữu.

Nguồn: Nợ xấu gia tăng, ngân hàng chịu sức ép củng cố dự phòng

Quang Anh
thuongtruong.com.vn
Chia sẻ

Tin liên quan

Cùng chuyên mục

Nợ xấu gia tăng, ngân hàng chịu sức ép củng cố dự phòng

Nợ xấu gia tăng, ngân hàng chịu sức ép củng cố dự phòng

Nợ cần chú ý và các khoản nợ dưới tiêu chuẩn tăng tại nhiều ngân hàng, trong khi khả năng bao phủ dự phòng có sự phân hóa rõ rệt. Diễn biến này đặt ra yêu cầu nhìn sâu vào chất lượng lợi nhuận, năng lực thu hồi vốn và nguồn lực xử lý rủi ro của từng nhà băng.

Các tin khác

Ngân hàng duy trì NIM ổn định, huy động tiếp tục phục hồi

Ngân hàng duy trì NIM ổn định, huy động tiếp tục phục hồi

Ngành ngân hàng quý III/2026 nhìn chung duy trì tỷ lệ biên lãi ròng (NIM) ổn định. Một tín hiệu tích cực đáng chú ý là huy động tiếp tục phục hồi trong khi nhu cầu tín dụng vẫn đang cao.
Tỷ giá USD/VND từ nay đến cuối năm dự báo ra sao?

Tỷ giá USD/VND từ nay đến cuối năm dự báo ra sao?

Quyết định lãi suất từ các ngân hàng trung ương lớn của thế giới mới đây không tác động nhiều đến tỷ giá USD/VND ngắn hạn, nhưng cần theo dõi chênh lệch lãi suất và cung cầu ngoại tệ.
Tín dụng tăng, vì sao lợi nhuận nhiều ngân hàng vẫn giảm?

Tín dụng tăng, vì sao lợi nhuận nhiều ngân hàng vẫn giảm?

Dư nợ mở rộng chưa đủ bảo đảm lợi nhuận tăng trưởng khi chênh lệch thu chi lãi bị thu hẹp, chi phí dự phòng gia tăng và nguồn thu dịch vụ thiếu ổn định. Kết quả kinh doanh 9 tháng năm 2026 cho thấy sự phân hóa giữa các ngân hàng ngày càng rõ.
Việt Nam kỳ vọng trở thành đối tác phát triển, hợp tác đầu tư toàn cầu

Việt Nam kỳ vọng trở thành đối tác phát triển, hợp tác đầu tư toàn cầu

Việt Nam đang tập trung xây dựng đồng bộ hệ sinh thái, kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp, phát huy khai thác tối đa các động lực tăng trưởng mới có tính đột phá của thị trường vốn, các khu thương mại tự do và trung tâm tài chính quốc tế.
Các ngân hàng đã triển khai hạ lãi suất ra sao?

Các ngân hàng đã triển khai hạ lãi suất ra sao?

Trong khi một số ít ngân hàng có mức điều chỉnh lãi suất huy động giảm mạnh, hầu hết đều thực hiện giảm 0,5%/năm tập trung ở kỳ hạn 6 tháng trở lên - mức và kỳ hạn theo yêu cầu cụ thể của NHNN.
Lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết tăng mạnh trong quý III/2026

Lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết tăng mạnh trong quý III/2026

Các doanh nghiệp phi tài chính ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận sau thuế 65,5%, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lợi nhuận của nhóm đã công bố BCTC quý III/2026.
Thống đốc nói về lãi suất, tín dụng bất động sản và vốn cho doanh nghiệp

Thống đốc nói về lãi suất, tín dụng bất động sản và vốn cho doanh nghiệp

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Đức Ấn cho biết tín dụng bất động sản tăng 9,84%, thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng chung. Để tạo điều kiện tiếp cận vốn ngân hàng, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần minh bạch thông tin tài chính, chứng minh khả năng trả nợ. NHNN sẽ khuyến khích các tổ chức tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp.
USD liên tục lao dốc, tỷ giá cuối năm có dứt cơn sốt theo chu kỳ?

USD liên tục lao dốc, tỷ giá cuối năm có dứt cơn sốt theo chu kỳ?

Giá USD tại các ngân hàng giảm mạnh, lần đầu tiên xuống dưới 26.000 đồng sau 1 năm rưỡi. Giá USD tự do 'bốc hơi' tới hơn 400 đồng sau 1 phiên, mất mốc 26.000 đồng. Sau chuỗi ngày giảm giá liên tục, giá USD cuối năm có lặp lại cơn sốt theo chu kỳ hằng năm?
Niềm tin - "Điểm neo" nguồn vốn

Niềm tin - "Điểm neo" nguồn vốn

Theo các chuyên gia, xây dựng một thị trường vốn sâu rộng và đáng tin cậy là cơ sở quan trọng để hướng đến quốc gia có thu nhập cao.
Ngân hàng cho vay 20,8 triệu tỷ đồng, hơn 77% vốn vào sản xuất kinh doanh

Ngân hàng cho vay 20,8 triệu tỷ đồng, hơn 77% vốn vào sản xuất kinh doanh

Theo NHNN, đến ngày 26/10, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 20,8 triệu tỷ đồng, trong đó, hơn 77% vốn tín dụng đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
3 ngân hàng có vốn Nhà nước lãi lớn trong quý III/2026

3 ngân hàng có vốn Nhà nước lãi lớn trong quý III/2026

Bất chấp thách thức của lãi suất ảnh hưởng NIM và chất lượng tài sản, VietinBank, Vietcombank và BIDV tiếp tục trong top đầu về quy mô hoặc tốc độ tăng lợi nhuận.
Giá USD ngân hàng xuống dưới 26.000 đồng, thị trường tự do lao dốc

Giá USD ngân hàng xuống dưới 26.000 đồng, thị trường tự do lao dốc

Giá USD tại kênh ngân hàng lần đầu tiên xuống dưới mốc 26.000 đồng sau một năm rưỡi. Giá USD tự do giảm rất mạnh, 'bốc hơi' tới hơn 400 đồng, cũng về dưới 26.000 đồng.
Việt Nam kết nối tài chính toàn cầu, phát triển thị trường vốn

Việt Nam kết nối tài chính toàn cầu, phát triển thị trường vốn

Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trở thành địa chỉ thu hút nguồn tài chính quốc tế và vốn đầu tư giá trị cao, tiếp tục các nỗ lực kết nối với thủ phủ tài chính London của Vương quốc Anh và toàn cầu.
"Sóng ngầm" trong Fed giữa cuộc chiến chống lạm phát

"Sóng ngầm" trong Fed giữa cuộc chiến chống lạm phát

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định giữ nguyên lãi suất trong cuộc họp ngày 28/10, bất chấp lạm phát vẫn ở mức cao. Đáng chú ý, quyết định này vấp phải sự phản đối của hai thành viên Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC), cho thấy những khác biệt ngày càng rõ trong cách các nhà hoạch định chính sách đánh giá rủi ro lạm phát và định hướng điều hành tiền tệ.
"Điểm rơi" phục hồi lợi nhuận của STB

"Điểm rơi" phục hồi lợi nhuận của STB

Dù kết quả kinh doanh quý III/2026 có thể chưa thực sự bứt phá do chi phí dự phòng cao và NIM thu hẹp, song Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc (Sacombank, HOSE: STB) vẫn được kỳ vọng sẽ tăng tốc mạnh mẽ từ quý IV/2026 và năm 2027 nhờ động lực từ xử lý nợ xấu tồn đọng và quy mô vốn được tăng cường.
Số dư chứng chỉ tiền gửi tăng mạnh, ngân hàng vẫn chịu áp lực huy động vốn

Số dư chứng chỉ tiền gửi tăng mạnh, ngân hàng vẫn chịu áp lực huy động vốn

Trong 9 tháng năm 2026, nhiều ngân hàng ghi nhận tốc độ tăng trưởng chứng chỉ tiền gửi lên tới ba chữ số, cho thấy nhu cầu huy động vốn vẫn đang ở mức cao.
Giảm lãi suất, ngân hàng tìm lời giải từ đâu?

Giảm lãi suất, ngân hàng tìm lời giải từ đâu?

Hơn 20 ngân hàng đã công bố hạ lãi suất huy động, đồng thời triển khai giảm lãi vay cho một số nhóm khách hàng. Tuy nhiên, khi nhu cầu tín dụng còn lớn và tiền gửi vẫn là nguồn vốn chủ lực, việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp đòi hỏi thêm nguồn lực từ thị trường vốn trong nước và quốc tế.
Khơi thông 7 nguồn lực vốn trong nền kinh tế

Khơi thông 7 nguồn lực vốn trong nền kinh tế

Để đạt các mục tiêu tăng trưởng cao, từ nay đến năm 2030, trung bình mỗi năm cả nước cần từ 280 - 300 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng vốn bình quân 14%/năm.
Xem thêm
Đổi thay nơi ngã ba biên giới Mường Nhé

Đổi thay nơi ngã ba biên giới Mường Nhé

Nỗ lực gỡ thẻ vàng thủy sản và khai thác nghề cá có trách nhiệm tại các vùng  biển.

Nỗ lực gỡ thẻ vàng thủy sản và khai thác nghề cá có trách nhiệm tại các vùng biển.

Gỡ thẻ vàng thủy sản gắn với xây dựng kinh tế biển

Gỡ thẻ vàng thủy sản gắn với xây dựng kinh tế biển

Ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam 2024 sắp diễn ra tại Quảng Trị

Ngày hội văn hóa các dân tộc Việt Nam 2024 sắp diễn ra tại Quảng Trị

[Tổng Hợp] 6 Quy Định Mới Về Đất Đai, Nhà Ở Có Hiệu Lực Tháng 8/2024

[Tổng Hợp] 6 Quy Định Mới Về Đất Đai, Nhà Ở Có Hiệu Lực Tháng 8/2024

WORLDBANK DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2024 VÀ NĂM 2025 | NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG  #62

WORLDBANK DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2024 VÀ NĂM 2025 | NHỊP ĐẬP THỊ TRƯỜNG #62

Cụ thể, báo cáo “Điểm lại - Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam” ấn bản tháng 4/2024 của WB tại Việt Nam ngày 23/4 đã chỉ ra xuất khẩu đang phục hồi, tiêu dùng và đầu tư tư nhân trong nước cũng trên đà tăng dần. Xuất khẩu thực tế dự kiến sẽ tăng 3,5% vào năm 2024, phản ánh sự cải thiện dần dần nhu cầu toàn cầu. Ngoài ra, lĩnh vực bất động sản dự báo phục hồi mạnh hơn vào cuối năm nay và năm sau, thúc đẩy nhu cầu trong nước khi các nhà đầu tư và người tiêu dùng dần lấy lại niềm tin.
Tọa đàm “Xúc tiến thương mại: Khơi thông đầu ra cho sản phẩm OCOP”

Tọa đàm “Xúc tiến thương mại: Khơi thông đầu ra cho sản phẩm OCOP”

sản phẩm OCOP
Bác sĩ tư vấn cách phòng tránh bệnh đường hô hấp trong thời tiết giao mùa

Bác sĩ tư vấn cách phòng tránh bệnh đường hô hấp trong thời tiết giao mùa

Trao yêu thương cho em

Trao yêu thương cho em

Nhằm kết nối, sẻ chia với các trẻ em mồ côi cha, mẹ do dịch Covid-19 vừa qua trên địa bàn Cần Thơ. Tạp chí Gia đình Việt Nam tại TP Cần Thơ tổ chức Chương trình nghệ thuật “ Nối vòng yêu thương” diễn ra vào ngày 28/6/2022. Công ty Cổ phần Trầm hương sinh học TTT là đơn vị tài trợ chính cho chương trình với mong muốn các em sẽ đón nhận những tương lai tươi sáng.
Kon Tum giải cứu nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia

Kon Tum giải cứu nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia

Ngày 18/4 vừa qua, đối tượng Lê Ngọc Nhất đã dẫn Y Liên cùng 5 người khác gồm 2 nữ, 3 nam không rõ tên tuổi, không quen biết nhau sang Campuchia qua đường mòn biên giới tỉnh Long An.
Giao diện di động